Di sản Việt Nam- có bao nhiêu để nói là quá nhiều?


Số lượng di sản thế giới của Việt Nam chưa thấm vào đâu, chưa thể gọi là nhiều. Câu hỏi quan trọng hơn phải đặt ra là Việt Nam đã ứng xử với các di sản được công nhận ra sao? Nỗ lực làm hồ sơ để UNESCO công nhận là một chuyện, nhưng có thật sự áp dụng những “chuẩn” của UNESCO trong việc bảo tồn, phát huy di sản đã được công nhận ấy hay không, lại là một chuyện khác.

Danh hiệu di sản thế giới có thật sự cần thiết với Việt Nam không? Việt Nam có bao nhiêu di sản? Có nhiều quá không? Có nên “hạn chế” số lượng di sản không … là những câu hỏi người viết bài này đã thử đem hỏi một số chuyên gia văn hóa.

Sở dĩ phải đặt ra những câu hỏi lạc điệu như thế là bởi thời gian gần đây, khái niệm di sản có phần bị lạm dụng thái quá, ở đâu cũng nghe nói đến di sản, bất cứ cái gì cũng gọi là di sản khiến những người ngoài cuộc… chẳng biết đâu mà lần. Sự đánh đồng nhận thức hay còn gọi là “vàng lộn theo chì” như vậy không những làm sai lạc nhận thức mà còn dẫn đến tai hại trong cách ứng xử với từng dạng loại di sản.

Chen chân xếp hàng cũng khó có được di sản thế giới!

Thực ra, Việt Nam chúng ta chưa xếp hạng di sản, chỉ mới có bảng xếp hạng di tích cấp quốc gia, cấp tỉnh/thành phố…

Khái niệm di sản, vì thế được dùng trước tiên với các di sản thế giới (gồm di sản thiên nhiên và di sản văn hóa) do UNESCO công nhận. Đây cũng là danh hiệu “danh giá” nhất trong hệ thống danh hiệu của UNESCO, danh giá bởi sự lâu đời (Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được Đại hội đồng UNESCO thông qua ngày 16/11/1972), cũng như sự khắt khe trong việc so sánh, đánh giá. Rất nhiều hồ sơ của Việt Nam đã bị “bác” vì không đủ tiêu chuẩn về kỹ thuật (như hồ sơ Vườn quốc gia Cát Tiên), hay chưa chứng minh được tính độc đáo, duy nhất (như Vườn quốc gia Ba Bể)…

Kể từ di sản đầu tiên là quần thể di tích cố đô Huế, được công nhận di sản văn hóa vào năm 1993, đến nay Việt Nam mới chỉ có thêm 2 di sản thiên nhiên (Vịnh Hạ Long được công nhận 2 lần vào năm 1994, năm 2000; và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng năm 2003), và 3 di sản văn hóa (Phố cổ Hội An – 1999, Thánh địa Mỹ Sơn – 1999 và Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – 2010).

Nghĩa là trong tổng số 911 di sản của 151 quốc gia (gồm 704 di sản văn hóa, 180 di sản thiên nhiên và 27 di sản hỗn hợp), Việt Nam có 6 di sản, đúng với tỷ lệ trung bình (911/151). Ứng viên mới nhất của Việt Nam là Khu di tích Thành nhà Hồ, sẽ được UNESCO xem xét hồ sơ trong nay mai.

Rồng đá trên thềm Điện Kính Thiên – trung tâm của Hoàng thành Thăng Long

Ngoại trừ Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long “mới toe” khi được công nhận vào 9/2010, các di sản thế giới còn lại đã có thời gian chứng minh lợi thế khi đều trở thành những điểm nhấn trên bản đồ du lịch Việt Nam, nhất là trong mắt du khách nước ngoài. Đến Hội An hay Mỹ Sơn dễ có cảm giác khách nước ngoài nhiều hơn khách Việt Nam, và rất nhiều người đã không ngần ngại chọn Hội An và Hạ Long là “điểm dừng chân đáng yêu nhất của Việt Nam”.

Danh hiệu di sản thế giới cũng giúp chính các tỉnh thành “sở hữu” di sản hiểu hơn về giá trị cũng như có ý thức bảo tồn di sản theo đúng “chuẩn” quốc tế, lại được sự giúp đỡ về chuyên môn của các quốc gia nhiều kinh nhiệm như Nhật Bản (với cố đô Huế), Italia (thánh địa Mỹ Sơn)… Nhiều chuyên gia trùng tu di tích của Việt Nam đã có một mơ ước “viển vông”, là các di tích quý của Việt Nam đều được người Việt Nam ứng xử trân trọng như cách người nước ngoài đang làm, chứ không phải cứ trùng tu là như xây mới, trùng tu xong thì di tích to hơn nhưng khó mà bảo là đẹp hơn, khó mà khẳng định còn giá trị gì?

Đa dạng văn hóa phát tín hiệu SOS

Những năm gần đây, ngoài danh hiệu di sản thế giới, Việt Nam đã biết nhiều hơn đến các danh hiệu khác của UNESCO.

Trước hết là các danh hiệu di sản phi vật thể. Huế tiếp tục “đi đầu” khi Nhã nhạc cung đình Huế là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003, sau đó là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào năm 2005. Với hai di sản này, cách “xếp hạng” di sản phi vật thể phần nào giống với xếp hạng di sản thế giới, nghĩa là có sự so sánh hơn – kém, duy nhất hay không duy nhất…

5 di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh không thể nói là nhiều, nhất là với 1 quốc gia đa dạng văn hóa như Việt Nam. Nhớ lại, cùng trong đợt xét danh hiệu của năm 2009, khi Việt Nam chỉ ứng cử mỗi hồ sơ Quan họ, thì Trung Quốc có tới 22 di sản được công nhận, Nhật Bản đứng thứ 2 với 13 di sản, rồi thì Croatia 7 di sản, Hàn Quốc 5 di sản.

Nhưng UNESCO đã sớm nhận ra cần phải ứng xử với di sản phi vật thể theo cách hoàn toàn khác, bởi di sản phi vật thể trước hết phải là của cộng đồng, và thật khó để đánh giá xem di sản của cộng đồng nào “giá trị” hơn, trong khi “tầm quan trọng của di sản phi vật thể như là động lực chính của đa dạng văn hóa và là 1 đảm bảo cho sự phát triển bền vững”.

Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể được thông qua vào ngày 17/10/2003 đã mở ra một thời kỳ mới trong quan niệm của UNESCO với di sản phi vật thể. Từ đây, di sản phi vật thể được công nhận theo 2 danh hiệu: Di sản phi vật thể đại diện, và di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Giải thích nôm na thì 2 danh hiệu giá trị ngang nhau, nhưng danh hiệu DSPVT cần được bảo vệ khẩn cấp mang tính cấp bách hơn, dành cho những di sản có nguy cơ biến mất, là sự nhắc nhở cần thiết với cộng đồng và quốc gia sở hữu di sản.

Sau khi công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể có hiệu lực, Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trở thành di sản phi vật thể đại diện, đến nay, Việt Nam có thêm 2 DSPVT đại diện là Quan họ (2009), Hội Gióng (2010) và 1 DSPVT cần được bảo vệ khẩn cấp là Ca trù (2009).

5 di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh không thể nói là nhiều, nhất là với 1 quốc gia đa dạng văn hóa như Việt Nam. Nhớ lại, cùng trong đợt xét danh hiệu của năm 2009, khi Việt Nam chỉ ứng cử mỗi hồ sơ Quan họ, thì Trung Quốc có tới 22 di sản được công nhận, Nhật Bản đứng thứ 2 với 13 di sản, rồi thì Croatia 7 di sản, Hàn Quốc 5 di sản.

Chưa thấm vào đâu!

Trong hệ thống các danh hiệu di sản của UNESCO còn có danh hiệu Di sản tư liệu thế giới (Việt Nam đã có Mộc bản triều Nguyễn được công nhận vào năm 2009, Bia tiến sĩ Văn Miếu được công nhận năm 2010). Hay cuối năm ngoái, Cao nguyên đá Đồng Văn là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, cũng là công viên thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á trở thành thành viên của Mạng lưới công viên địa chất toàn cầu (GGN) sau những nỗ lực trong rất nhiều năm của Viện Khoa học địa chất và khoáng sản.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2005

Cũng như Việt Nam đã có 8 khu dự trữ sinh quyển được công nhận danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển thế giới, chủ yếu do nỗ lực của Ủy ban quốc gia Con người và Sinh quyển Việt Nam, nhưng hình như không mấy ai biết đến danh hiệu này, chứ nói gì đến việc khai thác danh hiệu cho mục tiêu bảo tồn và phát triển.

Nhớ lại, tại Hội nghị toàn quốc các Khu dự trữ sinh quyển và Di sản thế giới của Việt Nam năm 2009 do Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và tỉnh Quảng Bình tổ chức, ông Phạm Sanh Châu – khi đó là Tổng thư ký UBQG UNESCO Việt Nam – hai, ba lần tha thiết đề nghị các tỉnh phải “năng động” hơn trong việc đề cử các danh hiệu của UNESCO. Ông Châu cũng đưa ra con số rất “hứa hẹn”, rằng UNESCO là một thương hiệu lớn trị giá 500 triệu dollars Mỹ, mỗi di sản thế giới sẽ thu hút lượng khách trung bình là 1 tỷ người.

Thống kê tất tần tật để thấy số lượng di sản thế giới của Việt Nam chưa thấm vào đâu, chưa thể gọi là nhiều. Câu hỏi quan trọng hơn phải đặt ra là Việt Nam đã ứng xử với các di sản được công nhận ra sao? Nỗ lực để làm hồ sơ cho UNESCO công nhận là một chuyện, nhưng có thật sự áp dụng những “chuẩn” của UNESCO trong việc bảo tồn, phát huy di sản đã được công nhận ấy hay không, lại là chuyện hoàn toàn khác.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: