Cần có cơ chế riêng về tiền lương trong khu vực nhà nước


(NVT)- Nhằm thu thập các thông tin về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội phục vụ cho việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng hàng năm và hoạch định các chính sách về lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội, Bộ LĐTB & XH đã tổ chức một cuộc điều tra về lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội với 1.581 doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên và 14.451 người lao động trong các loại hình doanh nghiệp. Cuộc điều tra diễn ra tại 15 tỉnh, thành phố, đại diện cho 8 vùng kinh tế của cả nước gồm các tỉnh như: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu và Cần Thơ.
Kết quả cuộc điều tra cho thấy, trong năm 2010 tiền lương của người lao động vẫn tiếp tục ổn định và có xu hướng tăng. Tuy nhiên, ở mỗi khu vực, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất, kinh doanh khác nhau có những mức tăng khác nhau. Điển hình như, tiền lương bình quân của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp năm 2010 là 3,2 triệu đồng/người/tháng; tăng 10,3% so với năm 2009. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước có mức lương bình quân là 3,8 triệu đồng, tăng 8,6%; doanh nghiệp cổ phần có vốn đầu tư nhà nước là 3,3 triệu đồng/người/tháng, tăng 10,0%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3 triệu đồng, tăng 11,1%; doanh nghiệp dân doanh là 2,7 triệu đồng/người/tháng, tăng 12,5% so với năm 2009.
Cũng theo kết quả khảo sát cho thấy ngành mỏ, luyện kim đứng đầu trong danh sách có mức lương cao với thu nhập bình quân là 9,2 triệu đồng/người/tháng. Tiếp sau là ngân hàng với mức lương bình quân 7,6 triệu đồng/người/tháng; dược với mức bình quân 7 triệu đồng/người/tháng; điện tử viễn thông 5,5 triệu đồng/người/tháng… Tuy nhiên ở những ngành như dệt may, da giày… mức lương bình quân chỉ từ 2,1 đến 2,3 triệu đồng/người/tháng. Đặc biệt, mức chênh lệch tiền lương giữa các nghề, vị trí lao động ngày càng có xu hướng tăng dần. Đối với lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, lao động quản lý giỏi có tiền lương cao hơn rất nhiều so với mức trung bình và lao động giản đơn. Cụ thể, chênh lệch tiền lương giữa lao động quản lý so với lao động giản đơn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2006 ở mức 9 đến 10 lần nhưng đến năm 2010 khoảng cách này là 20 đến 21 lần; doanh nghiệp trong nước có mức chênh lệch này thấp hơn, chỉ từ 7 đến 8 lần.
Theo Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương ( Bộ LĐTB &XH): chênh lệch tiền lương giữa các nghề, vị trí công việc, giữa lao động chuyên môn, kỹ thuật cao, quản lý giỏi với lao động lao giản đơn có xu hướng tăng dần. Nguyên nhân do các doanh nghiệp này có những chính sách khuyến khích để giữ nguồn nhân lực có trình độ. Tuy nhiên, chênh lệch này còn ở mức thấp đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Để tạo ra sự công bằng cũng như đảm bảo quyền lợi của người lao động ở khu vực này theo bà Tống Thị Minh cần có những cơ chế và chính sách quản lý lao động và tiền lương riêng đối với khu vực này, đảm bảo tiền lương gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
Năm 2011, theo lộ trình của đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội giai đoạn 2008 – 2012, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ căn cứ vào GDP, CPI và mức tăng tiền lương, tiền công trên thị trường để xây dựng phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trong các loại hình doanh nghiệp trình Chính phủ ban hành áp dụng vào năm 2012.
Lê Bảo
(Nguồn: daidoanket.vn)
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: