Điều tiết thực trạng cung – cầu lao động: Tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công


Đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thị trường; chất lượng lao động còn thấp; 70% người lao động tại Việt Nam không có việc làm ổn định, trong khi doanh nghiệp thiếu nhân công; mức chênh lệch về tiền lương bình quân của các doanh nghiệp quá lớn – đó là thực trạng cung – cầu lao động hiện nay mà Bộ LĐ-TB&XH vừa khảo sát, trình Chính phủ.

LĐ thất nghiệp – DN thiếu nhân công – Mức chênh lệch lương lớn!

Theo khảo sát của Bộ LĐ-TB&XH, hiện cả nước có gần 17 triệu lao động làm việc tại 4 triệu cơ sở kinh tế. Trong số đó chỉ có 30% có việc làm ổn định. Số còn lại là những lao động thời vụ, làm việc trong gia đình, lao động nông nghiệp.

Có 9,1% số lao động làm việc tại khu vực nhà nước; 3,7% lao động làm việc tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và có tới 87,2% làm việc ở khu vực ngoài nhà nước. Tiền lương bình quân ở một số ngành trong khu vực ngoài quốc doanh thấp hơn hai khu vực còn lại một cách đáng kể. Cụ thể là lương bình quân khu vực này bằng 56,6% khu vực doanh nghiệp nhà nước và chỉ bằng 68,4% khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH trình Chính phủ thì hiện nay có khoảng 25% sinh viên các ngành luật, quản trị kinh doanh, khoa học xã hội chấp nhận làm các công việc chỉ dành cho lao động phổ thông như bán hàng, tiếp thị, dịch vụ ăn uống. Và còn rất nhiều sinh viên học ngành này làm việc ở một ngành khác, hiện tượng “nhảy việc”, kén việc thường xuyên xảy ra gây hỗn loạn thị trường lao động.

Nhiều sinh viên ra trường do không tìm được công việc như ý đã chuyển sang kinh doanh, buôn bán. Nhiều doanh nghiệp thường xuyên đăng tuyển dụng lao động và sa thải khiến cho thị trường lao động mất cân bằng, sự dịch chuyển lao động giữa các ngành nghề ngày càng lớn.

Tiền lương giữa các ngành nghề, có chênh lệch lớn như ngành nuôi trồng, lâm nghiệp, dệt may có mức lương thấp, dao động từ 1,1-1,4 triệu đồng/tháng, trong khi đó, một số ngành khác lại có mức lương cao hơn từ 3-10 lần như vận tải hàng không, dầu khí, tài chính, khai thác than, hoạt động y tế với mức dao động từ 3,46-13,6 triệu đồng/tháng.

Bộ LĐ-TB&XH cũng chỉ ra tiền lương của lao động tự do còn cao hơn nhiều so với lao động làm việc trong các doanh nghiệp nói trên. Cụ thể là mức tiền lương bậc 1 của người vừa tốt nghiệp đại học (hệ số 2,34), tính theo mức lương tối thiểu 640.000 đồng/người/tháng như hiện nay thì họ chỉ được khoảng 50.000 đồng/ngày.

Trong khi đó, lao động tự do như buôn bán nhỏ, bốc vác, thợ xây dựng vẫn dễ dàng kiếm được từ 80.000-120.000 đồng/ngày. Khảo sát thực tế về cuộc sống của một công chức ở Hà Nội cho thấy: với mức tiền lương mỗi tháng là 1,5-2 triệu đồng thì ngoài các khoản chi phí phải trả hằng tháng như điện, nước, điện thoại, xăng xe, họ chỉ còn khoảng 1 triệu đồng dành cho ăn sáng, trưa, chiều. Đó là chưa kể đến các trường hợp phải nuôi vợ, con; thuê nhà.

Rõ ràng là lương không đủ chi tiêu thì việc tích lũy để mua nhà ở là điều không tưởng. Theo đánh giá chung thì mức tăng của tiền lương theo lộ trình chưa đủ bù đắp mức tăng giá sinh hoạt hiện nay.

Cần có sự điều tiết!

Từ kết quả khảo sát thực tế, Bộ LĐ-TB&XH cho rằng, sự chênh lệch về tiền lương, mất cân đối về việc làm cho thấy, hiện nay sự điều tiết về tiền công, tiền lương trên thị trường lao động đang còn nhiều bất hợp lý. Việc áp dụng chính sách tiền lương một cách cứng nhắc đã gây nên những bất cập trong xã hội.

Để điều tiết thị trường lao động, cải thiện sự mất cân đối, Bộ LĐ-TB&XH vừa trình Chính phủ xem xét, tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền công theo định hướng thị trường, gắn với năng suất lao động và thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt, Chính phủ cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao.
Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thanh Hòa cho biết, Bộ đã kiến nghị Chính phủ cần phát triển mạnh nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, nhất là hướng nghiệp, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe.

Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề, cấp trình độ và có chất lượng để cung cấp cho các ngành, vùng kinh tế, đặc biệt là các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm, phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập.

Bộ cũng đề nghị Chính phủ cần phát triển nguồn nhân lực thích ứng với thị trường, nhất là phổ cập nghề cho lao động nông thôn; tiếp tục giải phóng triệt để sức lao động nhằm phát huy cao nhất tiềm năng và nguồn vốn nhân lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo việc làm theo hướng bền vững và có thu nhập cao.
(Nguồn: Báo HNM)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: