Xu hướng phát triển quan hệ ba bên ở Việt Nam


Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường lao động và quan hệ lao động đang gắn kết với nhau, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Việc duy trì, phát triển mối quan hệ giữa nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động là rất cần thiết, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của lao động xã hội.

Cùng với quá trình đổi mới đất nước, sự hình thành và phát triển thị trường lao động ở nước ta là một quá trình thay đổi cả về lượng và chất, cả nội dung và hình thức biểu hiện. Qua đó xác định tính quy luật vận động của các mối quan hệ trong lao động, chủ động tạo ra một cơ chế vận hành phù hợp với hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Dự báo quá trình này sẽ diễn biến theo những xu hướng chủ yếu sau đây: Sự hình thành và phát triển thị trường lao động gắn liền với sự thay đổi nhận thức về quan hệ lao động, phù hợp với điều kiện khách quan sự thay đổi về chính trị, kinh tế – xã hội ở trên thế giới và trong nước. Từ đó làm thay đổi quan niệm về bóc lột sức lao động theo hướng hình thành quan niệm mới về quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động. Sự thay đổi này được thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta về quan hệ lao động.

Trong tương lai nhiều thành phần kinh tế đang hình thành và phát triển tạo nên sự đa dạng, đan xen hỗn hợp, nên quan hệ lao động cũng mang những hình thức mới. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, hội đồng quản trị doanh nghiệp có quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ kinh doanh, chế độ biên chế đang dần mất đi vị trí vốn có. Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, do xác định chủ sở hữu là tư nhân nên tính chất quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ – thợ, được xác lập trên cơ sở Luật doanh nghiệp.

Quá trình hình thành, phát triển quan hệ lao động gắn liền với sự thay đổi từ phía người lao động. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động đến nhận thức, quan niệm về quan hệ lao động, đến lối sống của người lao động. Trong những năm tới, Nhà nước ngày càng có những quyết sách đúng đắn về quan hệ lao động, làm cho xã hội ngày càng lành mạnh, phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xu hướng phát triển quan hệ lao động gắn liền với xu hướng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam từ nay cho đến năm 2020 và những năm tiếp theo, được đặt trong bối cảnh mới với nhiều thuận lợi, cơ hội và những khó khăn, thách thức lớn. Giai cấp công nhân Việt Nam phát triển trên cơ sở kế tiếp các thế hệ, bắt đầu hình thành giai cấp công nhân nhiều đời, nhưng cơ bản giai cấp công nhân Việt Nam mới chỉ có một hoặc hai thế hệ. Chất lượng của quan hệ lao động từng bước được cải thiện cùng với xu hướng trí thức hóa công nhân.

Xu hướng trí thức hóa công nhân ngày càng mạnh trong giai đoạn 2011 – 2020 nhờ thành tựu giáo dục, đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, nhất là đột phá vào dạy nghề, tập trung ở một số ngành kinh tế mũi nhọn, trong các doanh nghiệp hiện đại áp dụng công nghệ cao và tự động hóa, trong các khu công nghệ cao … (dự báo chiếm khoảng 7% – 10% trong tổng số lao động kỹ thuật). Do đặc điểm phát triển doanh nghiệp của Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm 90%), nên tỷ lệ công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn là ưu thế (chiếm 80 – 85%). Tuy nhiên, xu hướng chung là sẽ hình thành các tập đoàn kinh tế lớn với quy mô lao động lớn, do đó tỷ trọng công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa có xu hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong trung và dài hạn.

Cùng với sự phát triển nền công nghiệp và dịch vụ hiện đại, áp dụng kỹ thuật và công nghệ cao, tác phong công nghiệp, văn hóa nghề, kỷ cương, kỷ luật, khả năng thích nghi, làm việc theo nhóm, trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc của công nhân ngày càng tăng; ý thức của giai cấp công nhân mới có bản lĩnh chính trị, có năng lực nghề nghiệp và đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, yêu nước, gắn bó với chế độ được củng cố và tăng cường trong nền kinh tế mở, môi trường sản xuất năng động và hiệu quả. Điều này sẽ có tác động tích cực đến quan hệ ba bên.

Dự báo đến năm 2020 thu nhập bình quân của công nhân có thể tăng 2,8 – 3 lần so với năm 2008; mức sống của công nhân có thể tăng trên 2,5 lần. Công nhân có trình độ chuyên môn sẽ được trả tiền lương cao tương ứng với kết quả lao động và cống hiến do tiền lương có tính cạnh tranh mạnh hơn; một bộ phận đáng kể công nhân sẽ có tích lũy từ tiền lương và thu nhập. Phân hóa giàu nghèo; phân tầng xã hội về thu nhập và mức sống trong giai cấp công nhân có xu hướng tăng, một bộ phận đáng kể công nhân nhất là công nhân trí thức có tích lũy từ tiền lương.

Trong kinh tế thị trường vai trò của tổ chức công đoàn rất quan trọng, nhất là trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ ở phạm vi quốc gia. Công đoàn Việt Nam tham gia với Chính phủ, như là một thành viên trực tiếp hoạch định chính sách, pháp luật về lao động nói chung, về quan hệ lao động nói riêng; là một kênh thông tin, tư vấn và tham vấn của chính phủ trong hoạch định chính sách, pháp luật về quan hệ lao động.

Đại diện cho người lao động, là chủ thể một bên trực tiếp tham gia đối thoại, thương lượng và thỏa thuận về quan hệ lao động trong cơ chế ba bên ở cấp quốc gia (có thể ở cấp vùng và địa phương), công đoàn bình đẳng với các chủ thể khác để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động. Tham gia cùng chính phủ kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động, quan hệ lao động trong doanh nghiệp. Chức năng tuyên truyền, hướng dẫn, giáo dục, vận động, đoàn viên công đoàn thực hiện pháp luật về quan hệ lao động của công đoàn vẫn là chức năng quan trọng. Công đoàn tổ chức tư vấn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ pháp luật nói chung, pháp luật về quan hệ lao động nói tiêng cho người lao động. Tham gia diễn đàn, thỏa thuận quốc tế về quan hệ lao động thuộc các tổ chức công đoàn thế giới và khu vực.

Vai trò của công đoàn đặc biệt quan trọng và trực tiếp trong quan hệ lao động thông qua quan hệ hai bên và vận hành cơ chế hai bên ở cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Công đoàn tham gia trực tiếp một bên trong quan hệ hai bên ở cấp doanh nghiệp, cấp ngành trong việc đối thoại, thương lượng, thỏa thuận và tự định đoạt về các quan hệ lao động mà hai bên cùng quan tâm theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai và cùng có lợi; Trực tiếp đàm phán, ký kết thỏa ước lao động tập thể cấp ngành, cấp doanh nghiệp; về các vấn đề đã thỏa thuận, về nội quy, quy chế của ngành, của doanh nghiệp về quan hệ lao động và tổ chức giám sát, kiểm tra đánh giá việc thực hiện; Tổ chức lãnh đạo đình công và tham gia thỏa thuận với người sử dụng lao động trong việc giải quyết tranh chấp lao động và đình công.

Với xu hướng phát triển quan hệ ba bên như vậy, vấn đề đặt ra ngay từ bây giờ là cần phải củng cố, hoàn thiện quan hệ ba bên giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động. Thể hiện ở việc hoàn thiện pháp luật lao động, khả năng thực hiện tốt pháp lệnh lao động của người sử dụng lao động và người lao động, trong đó có vai trò rất quan trọng của Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các tổ chức của người sử dụng lao động như Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam.
Theo congdoan.vn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: