Việt Nam – Con hổ châu Á mới?


Mới đây, trên tạp chí đối ngoại Mỹ đã có bài phân tích, giới thiệu, đánh giá về sự tăng trưởng kinh tế cũng như môi trường đầu tư của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận và đang trở thành một nam châm thu hút đầu tư nước ngoài nhưng muốn duy trì tăng trưởng, Việt Nam phải vượt qua được thách thức cải thiện hiệu suất lao động.

Xin trân trọng giới thiệu bài phân tích có tên “Mười điều bạn chưa biết về sự trỗi dậy của Việt Nam” của hai tác giả: Marco Breu – Giám đốc Điều hành Văn phòng Đại diện McKinsey & Company tại Hà Nội và Richard Dobbs – Giám đốc của McKinsey có trụ sở tại Seoul và là Giám đốc Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey – bộ phận nghiên cứu kinh doanh và kinh tế của McKinsey.

Rõ ràng, đã có nhiều thay đổi ở Đông Nam Á kể từ sau chiến tranh Việt Nam. Hơn 25 năm qua, Việt Nam đã có những bước chuyển mình rõ nét. Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Đất nước này đã trở thành một “thỏi nam châm” thu hút đầu tư nước ngoài và đang chuyển dịch nhanh chóng từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tập trung vào sản xuất và dịch vụ có giá trị cao hơn. Nhưng nếu muốn duy trì sự tăng trưởng ấn tượng đó, Việt Nam sẽ cần phải tăng hiệu suất lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ hơn nữa trong những năm tới.

Dưới đây là 10 đánh giá có thể khiến bạn ngạc nhiên được rút ra từ báo cáo “Duy trì tăng trưởng của Việt Nam: Thách thức hiệu suất” do Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey của Mỹ tiến hành nghiên cứu trên quy mô lớn về kinh tế Việt Nam.

1. Việt Nam phát triển nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế nào ở châu Á, ngoại trừ Trung Quốc

Việt Nam, một đất nước từng bị tàn phá bởi chiến tranh, là một trong những câu chuyện thành công trong phát triển kinh tế của châu Á trong ¼ thế kỷ qua. Kể từ sau Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VI năm 1986, Việt Nam đã tiến hành một loạt những cải cách được biết đến như là một công cuộc “Đổi mới”, giảm những rào cản thương mại và dòng vốn cũng như mở rộng cửa nền kinh tế cho khu vực tư nhân phát triển.

Trong suốt thời kỳ này, kinh tế Việt Nam đã mở rộng, phát triển nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế châu Á nào ngoại trừ Trung Quốc, với tăng trưởng GDP bình quân hằng năm 5,3%. Sự tăng trưởng này tiếp tục được duy trì ngay cả khi phải đối mặt với khủng hoảng tài chính châu Á trong những năm 1990 và suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây (từ năm 2005 – 2010, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7% /năm) – một kỷ lục đáng tự hào so với nhiều nước châu Á khác.

2. Việt Nam đang thoát ra khỏi những cánh đồng lúa

Nền kinh tế Việt Nam không còn xoay quanh nông nghiệp. Trên thực tế, nông nghiệp đóng góp vào GDP cả nước đã giảm một nửa, từ 40% xuống còn 20% chỉ trong vòng 15 năm! Đây là một sự thay đổi nhanh hơn nhiều so với các nền kinh tế châu Á khác. Trung Quốc phải mất 29 năm để có được kết quả này còn với Ấn Độ là 41 năm. Hơn 10 năm qua, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp trong cơ cấu lao động quốc gia đã giảm 13 điểm %, trong khi tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lần lượt là 9,6 điểm % và 3,4 điểm %. Sự chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã góp phần mạnh mẽ vào sự mở rộng kinh tế của Việt Nam bởi sự khác biệt lớn trong hiệu suất mà các ngành này tạo ra. Điều này có thể minh chứng khi tỷ lệ đóng góp vào GDP của ngành nông nghiệp đã giảm 6,7 điểm % trong khi thị phần của công nghiệp đã tăng 7,2 điểm % trong hơn 10 năm qua.

3. Việt Nam dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt tiêu, gạo, hạt điều và cà phê

Việt Nam là nước xuất khẩu hạt tiêu hàng đầu thế giới với 116.000 tấn gia vị được xuất khẩu trong năm 2010 đồng thời dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều trong 4 năm liên tiếp.

Việt Nam cũng là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới và chỉ đứng sau Brazil về xuất khẩu cà phê – chỉ trong vòng 4 năm, sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 3 lần. Đất nước này cũng đứng thứ 5 thế giới về sản xuất trà và thứ 6 thế giới về xuất khẩu thủy sản như cá tra, mực, tôm và cá ngừ.

4. Việt Nam không phải là “Trung Quốc +1″

Gia tăng chi phí nhân công ở Trung Quốc đã thúc đẩy một số chủ đầu tư chuyển hướng sản xuất sang Việt Nam, nơi có nguồn lao động phong phú với chi phí rẻ. Xu hướng này đã khiến người ta có cơ sở để tin rằng Việt Nam đang tiếp nối Trung Quốc trở thành công xưởng mới của thế giới ở châu Á – một phiên bản nhỏ hơn của Trung Quốc, hay “Trung Quốc + 1”.

Tuy nhiên, Việt Nam rất khác so với Trung Quốc. Điều đó thể hiện ở 2 khía cạnh sau:

Thứ nhất, kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi tiêu dùng cá nhân hơn là Trung Quốc. Tiêu dùng của hộ gia đình chiếm tới 65% GDP của Việt Nam – một tỷ lệ cao bất thường ở châu Á. Trong khi đó, ở Trung Quốc, tiêu dùng chỉ chiếm 35% GDP.

Thứ hai, trong khi tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Trung Quốc được thúc đẩy bởi xuất khẩu hàng công nghiệp và vốn đầu tư đặc biệt cao thì kinh tế Việt Nam phát triển khá cân bằng giữa sản xuất công nghiệp và dịch vụ với tỷ lệ đóng góp vào GDP của mỗi lĩnh vực là khoảng 40%.

Trong 5 năm qua, sản lượng của ngành công nghiệp (bao gồm cả xây dựng, sản xuất, khai thác mỏ và các tiện ích) và các ngành dịch vụ đã tăng trưởng với tỷ lệ so sánh hằng năm khoảng 8%.

5. Việt Nam là một nam châm thu hút đầu tư nước ngoài

Việt Nam có mặt hầu hết trong các danh sách các thị trường mới nổi hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Khảo sát của Ban Thương mại và Đầu tư của Anh và Bộ phận Tình báo kinh tế (EIU) đã xếp hạng Việt Nam là thị trường mới nổi hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất sau nhóm BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc). Dòng chảy FDI đăng ký vào Việt Nam đã tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2003 lên 71,7 tỷ USD trong năm 2008 trước khi giảm xuống 21,5 tỷ USD trong năm 2009 bởi suy thoái kinh tế toàn cầu.

Đây cũng là một điểm khác biệt nữa của Việt Nam với Trung Quốc. Gần 60% FDI của Trung Quốc được đổ vào sản xuất thâm dụng lao động, trong khi tỷ lệ này ở Việt Nam là 20%. Phần còn lại của FDI chảy vào khai thác mỏ, khai thác dầu mỏ và khí đốt (40%) và bất động sản (15-20%) phản ánh sự tăng trưởng nhanh chóng trong ngành công nghiệp du lịch của Việt Nam. Số lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam đã tăng từ 1/3 từ năm 2005.

6. Cơ sở hạ tầng đường sá của Việt Nam tiến bộ hơn Philippines và Thái Lan

Việt Nam đã bắt đầu đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng. Dù đường sá của Việt Nam vẫn khá cơ bản trong mắt nhiều du khách nước ngoài nhưng trong giai đoạn phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng đường bộ đã được bổ sung khá nhiều. Mật độ đường bộ đã đạt 0,78km/1km2 vào năm 2009, cao hơn so với mật độ đường bộ của Philippines hay Thái Lan – hai nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam. Cũng trong năm 2009, mạng lưới điện đã bao phủ 96% quốc gia. Các cảng container mới như Dung Quất và Cái Mép cũng như các sân bay ở Đà Nẵng (miền Trung Việt Nam) và Cần Thơ (trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long) đã được nâng cấp thành sân bay quốc tế.

7. Thế hệ trẻ Việt Nam ngày càng “trực tuyến hoá”

Dân số Việt Nam trẻ, được đào tạo tốt và ngày càng “trực tuyến hoá”. Thuê bao di động ở Việt Nam tăng gần 70% mỗi năm từ năm 2000 – 2010, trong khi tỷ lệ này ở Hoa Kỳ là 10%/năm trong cùng một thập kỷ. Đến cuối năm 2010, Việt Nam đã có 170 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có 154 triệu thuê bao di động.

Với tỷ lệ 31%, lượng truy cập Internet tại Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với các quốc gia châu Á khác như Malaysia (55%) và Đài Loan (72%) nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng. Thuê bao băng thông rộng tại Việt Namđã tăng từ 0,5 triệu trong năm 2006 lên khoảng 3,8 triệu trong năm 2010. Cũng trong năm 2010, lượng thuê bao đăng ký Internet 3G đã đạt tới 7,7 triệu thuê bao. Một khi cơ sở hạ tầng viễn thông bắt kịp xu hướng phát triển này, sử dụng điện thoại di động và Internet ở Việt Nam có khả năng bùng nổ. Hiện tại, có 94% người sử dụng Internet của Việt Nam đọc tin tức trực tuyến và hơn 40% người sử dụng truy cập các trang web mỗi ngày.

8. Việt Nam đang dẫn đầu trong số các quốc gia làm dịch vụ gia công phần mềm và thuê ngoài

Đã có hơn 100 nghìn nhân công Việt Nam lao động trong lĩnh vực dịch vụ gia công phần mềm và thuê ngoài, tạo ra doanh thu hằng năm hơn 1,5 tỷ USD. Một số tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng đã khẳng định sự hiện diện tại Việt Nam với hàng triệu USD đầu tư như Hewlett-Packard, IBM và Panasonic.

Thực tế, Việt Nam là nước có tiềm năng trở thành một trong 10 điểm đến hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này bởi lực lượng tương đối lớn lao động có trình độ (mỗi năm lực lượng lao động của Việt Nam lại được bổ sung 257 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học) với một mức lương so sánh thấp.

Sử dụng một lập trình viên Việt Nam có thể tiết kiệm cho nhà đầu tư 40% tiền lương so với thuê 1 lập trình viên Trung Quốc, trong khi các đại lý xử lý dữ liệu và xử lý tiếng nói tại Việt Nam chỉ có giá thấp hơn 50% so với những đối tác tương tự như vậy tại Trung Quốc.

9. Ngân hàng Việt Nam đang cho vay với một tốc độ nhanh hơn so với các ngân hàng Trung Quốc, Ấn Độ, hoặc ASEAN.

Tổng số các khoản cho vay ngân hàng tại Việt Nam đã tăng 33% mỗi năm trong suốt thập kỷ qua – tốc độ tăng trưởng mạnh hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ hay bất cứ một nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nào khác Đến cuối năm 2010, giá trị dư nợ cho vay ước tính lên tới 120% GDP, trong khi con số này năm 2000 chỉ là 22%. Mặc dù điều này có thể là bằng chứng cho sự năng động mới trong nền kinh tế Việt Nam, vấn đề lo ngại là sự gia tăng liên kết của các khoản nợ xấu có thể làm tổn thương nền kinh tế và buộc chính phủ phải can thiệp vào các lĩnh vực tài chính nhằm bảo vệ những người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và người nộp thuế.

10. Lợi tức nhân khẩu học của Việt Nam đang suy yếu

Từ năm 2005 đến 2010, sự mở rộng lực lượng lao động trẻ và sự chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra 2/3 tăng trưởng của Việt Nam. Số 1/3 còn lại xuất phát từ việc nâng cao năng suất lao động. Nhưng bây giờ, cả 2 sự thúc đẩy này đang suy yếu dần. Các thống kê chính thức dự báo rằng sự phát triển lực lượng lao động sẽ giảm xuống khoảng 0.6%/năm trong thập kỷ tới, so sánh với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm 2.8% trong giai đoạn 2000 – 2010. Và có vẻ như chúng ta sẽ không thấy sự chuyển dịch lao động từ các nông trại ra nhà máy mạnh mẽ như trước nữa.

Do đó, nếu vẫn muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cũ, Việt Nam cần phải cải thiện hiệu suất lao động. Chính xác hơn, sự tăng trưởng năng suất lao động trong nhóm ngành sản xuất và dịch vụ cần phải tăng tốc lên 50%, từ 4.1% lên 6.4% hàng năm nếu nền kinh tế muốn đáp ứng được mục tiêu của Chính phủ là tăng trưởng 7 – 8% mỗi năm đến năm 2020. Nếu năng suất này không đạt được, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ giảm xuống còn 4,5 – 5% mỗi năm.

***

Việt Nam có nhiều thế mạnh nội tại – một lực lượng lao động trẻ, dồi dào nguồn tài nguyên thiên nhiên, và sự ổn định chính trị. Nếu Việt Nam hành động dứt khoát để ngăn chặn những rủi ro ngắn hạn và theo đuổi chương trình tăng trưởng theo hướng tăng hiệu suất lao động, đất nước này có thể bước vào một làn sóng thứ hai của sự tăng trưởng và thịnh vượng.

Phương Anh

(Theo petrotimes.vn)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: