Phí hạn chế lưu thông xe máy ở thành phố: Chuyện lạ có thể có thật, vừa không có thật!


(NVT)- Nếu đề xuất thu phí hạn chế phương tiện giao thông được thông qua thì thời gian thu phí có hiệu lực mới được ấn định chăng?

“Hạn chế xe máy để giảm ùn tắc là giải pháp đi từ ngọn xuống gốc”

Thu phí hạn chế giao thông không làm giảm lượng xe máy

Việc Bộ Giao thông đề xuất thu phí hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, trong đó có đề xuất thu phí hạn chế xe máy lưu thông ở 5 thành phố lớn là Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng với lí do là để giảm ùn tác giao thông đang nóng “bừng” dư luận.

 

Xe máy và xe hơi sẽ là 2 đối tượng bị phải thu phí hạn chế?

Chuyện lạ vừa sẽ có thật, vừa sẽ không có thật?

Vấn nạn ùn tắc giao thông ngày càng nổi cộm ở các thành phố lớn là do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên có thể nói rằng căn nguyên gốc rễ của vấn nạn này là do quy hoạch và xây dựng cở sở hạ tầng đô thị nói chung, do việc đầu tư, xây dựng hạ tầng và cấu trúc hạ tầng giao thông nói riêng còn nhiều hạn chế?. Qua nghiên cứu, có thể nêu ra một số bất cập sau đây:

Bất cập về cơ sở hạ tầng đô thị

Các trung tâm thương mại, công sở, trường đại học, bệnh viện….chủ yếu tập trung ở nội vi thành phố, lại không có sự phân bổ hợp lí về địa lí và khoảng cách,…Trong khi việc đầu tư xây dựng những hạ tầng này ở ngoại vi thành phố và ở nông thôn cũng như việc di chuyển một số cơ sở này ra ngoài thành phố còn hạn chế và chậm do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó một phần là do nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp…

Bất cập về hạ tầng và cấu trúc giao thông đô thị

Một số tuyến đường chính hiện nay trong thành phố nói chung và ở các khu phố dân cư nói riêng còn chật chội, chất lượng và độ bền còn thấp. Một số tuyến đường đang xây dựng thì chậm tiến độ (có nhiều nguyên nhân chậm tiến độ, như việc giải phóng mặt bằng chậm…). Sự liên kết giữa các tuyến đường với nhau còn chưa thể hiện được tính đa tiện ích cho lưu thông thông suốt…

Còn những nguyên nhân khác tiếp sức, gây gia tăng ùn tắc giao thông thì lại có nhiều. Một trong những nguyên nhân này là do sự phát triển của các loại phương tiện giao thông, do sự gia tăng dân số cơ học ở các thành phố, do ý thức giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế trong đoạn đường hay bị ùn tắc…

Với xe gắn máy, sự gia tăng của nó cũng chỉ là nguyên nhân của tảng “băng” nổi trội trong ùn tắc giao thông ở các thành phố. Song, xét về mặt phát triển, thì sự gia tăng xe máy ở các thành phố không phải là căn nguyên gốc rễ của vấn nạn này. Vì vậy, để giảm ùn tắc giao thông bằng cách hạn chế xe máy, thậm chí là cấm xe máy lưu thông ở những giờ cao điểm trong một số tuyến đường thành phố cũng chỉ là giải pháp đi từ ngọn xuống gốc. Tuy nhiên,  không phải thế mà bảo là việc làm này nếu được thực thi sẽ là phi khoa học trong điều kiện thực tại ở các thành phố của nước ta.

Hạn chế không có nghĩa là bắt buộc, mà là biến nhận thức thành hành động có trách nhiệm của người tham gia giao thông bằng xe máy trước nạn ùn tắc này. Để nhận thức và hành động có trách nhiệm của người tham gia giao thông gia tăng thì nên chăng trong hệ thống các giải pháp đồng bộ cần có và coi việc đẩy mạnh công tác truyền thông là một trong những giải pháp hiệu quả vừa trước mắt, vừa lâu dài và sẽ được nhân dân ủng hộ?. Còn cấm xe máy lưu thông ở giờ cao điểm tại một số điểm nào đó thì là biện pháp bắt buộc không cần phải bàn đến nếu nó là cấp bách.

Còn việc thu phí xe máy ở thành phố mà bảo là hạn chế được việc lưu thông của loại phương tiện này để giảm ùn tắc giao thông mới là chuyện chưa có đủ căn cứ khoa học, cũng khó khả thi. Do vậy, nếu việc thu này được thông qua mới là chuyện lạ vừa có thật, vừa không có thật:

– Có thật nghĩa là người sở hữu các phương tiện này buộc phải đóng phí hạn chế lưu thông.

– Không có thật có nghĩa là những người này sẽ không hạn chế sử dụng xe máy của mình vì họ cho rằng họ đã phải đóng phí rồi. Còn chuyện ùn tắc không thuộc về trách nhiệm của họ?

– Còn chuyện lạ “kép” khó có thể có thật sẽ là người sở hữu các phương tiện này vừa phải đóng phí, vừa phải hạn chế sử dụng xe máy của mình chăng?

Phí và thuế?

Đối với nhà nước thì   thuế và phí đều là nguồn thu quan trọng để đất nước phát triển. Song, thuế và phí lại có sự khắc biệt căn bản. Thuế là thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ (bắt buộc) của mỗi công dân, mỗi tổ chức xã hội và đóng thuế đầy đủ mới là thể   hiện lòng yếu nước. Còn phí thì chỉ thể hiện sự bắt buộc khi sự lựa chọn liên quan đến việc hưởng lợi hoặc sử dụng từ các dịch vụ. Chẳng hạn như phí cầu đường, anh muốn đi qua thì anh phải đóng phí trong một số trường hợp nhất định hoặc anh muốn vào rạp xem phim thì anh phải mua vé…

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhận định “Khái niệm phí đã được nêu trong pháp lệnh phí và lệ phí rất rõ ràng   rằng phí là tiền mà cá nhân, tổ chức phải trả khi sử dụng dịch vụ của tổ   chức, cá nhân khác…. Nghĩa là tôi sử dụng dịch vụ nào, tôi trả tiền cho dịch vụ ấy và nó có định lượng, nghĩa là tôi đi xe nhiều thì trả nhiều, đi ít thì trả ít”

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: