Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Ông Nguyễn Toàn Phong, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội (Sở LĐTBXH Hà Nội):Mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thị trường

Theo thống kê của Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, trung bình mỗi phiên giao dịch có khoảng 2.000 người lao động đến tìm việc, trong đó có đến hơn 60% lao động tốt nghiệp CĐ, ĐH.

Điều này thể hiện sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Hiện các doanh nghiệp tập trung tuyển dụng lao động kỹ thuật phổ thông, lao động có kỹ năng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh; trong khi, như nói trên, số người tìm đến trung tâm giới thiệu việc làm vẫn chủ yếu là sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ…

Bên cạnh đó, kinh tế những năm qua khá khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm nhân lực hoặc giải thể. Trong khi đó, Hà Nội là nơi tập trung đông các trường CĐ, ĐH, tình trạng thất nghiệp của các cử nhân, thạc sĩ vì vậy dồn ứ từ nhiều năm, đến nay càng trở nên rõ nét. Rất nhiều cử nhân đành chấp nhận tìm việc trái ngành, thậm chí là làm lao động phổ thông. Cũng không ít trường hợp có bằng thạc sĩ vẫn phải cầm hồ sơ gõ cửa từng doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Lao động xã hội:Hệ quả của tâm lý sính bằng đại học

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường gia tăng do nhiều nguyên nhân. Trước tiên, về phía sinh viên, họ vẫn chịu áp lực từ xã hội, gia đình là phải có bằng cấp, nên kiểu gì cũng phải thi vào ĐH, CĐ, mà không quan tâm đến nhu cầu của nền kinh tế, nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động là cần những ngành nghề gì, cần ở đâu?…

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ hệ thống giáo dục đào tạo, dạy nghề hiện nay vẫn theo định hướng cung, dạy những gì chúng ta “có”, chứ không phải dạy cái xã hội cần. Vì vậy vấn đề quan trọng nhất là thị trường lao động cần gì, ngành nghề gì, kỹ năng gì, phẩm chất gì… thì chúng ta chưa đáp ứng được. Nhiều bạn trẻ được đào tạo ra, khi phỏng vấn xin việc doanh nghiệp thấy không đáp ứng được về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của người lao động trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa, công nghiệp hóa.

Nguyên nhân thứ ba là khi nền kinh tế phát triển và công nghệ ngày càng hiện đại, sẽ đòi hỏi nhân lực trình độ cao hơn nhưng lại phải gắn với ngành nghề cụ thể. Có đến 70-80% thanh niên thành phố muốn học về tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh; trong khi nhiều ngành khác như công nghệ thông tin, chế tạo máy… không có ai học. Trong thời điểm kinh tế phát triển, thì cần thu hút nhân lực ngân hàng, tài chính; nhưng khi cơ cấu nền kinh tế thay đổi, bị tác động của khủng hoảng kinh tế… thì những ngành này sẽ khó xin việc làm.

Nguyên nhân thứ 4 là việc xác định tính bền vững về nghề nghiệp của thanh niên còn yếu, chúng ta vẫn theo xu thế nghề thời thượng, nghề thu nhập cao, nghề được xã hội đánh giá cao, mà chưa chọn nghề phù hợp với năng lực bản thân. Mỗi chúng ta có năng lực nhất định, có người hợp với hội họa, có người hợp thể thao… “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, khi có nghề nghiệp chuyên sâu thì mới sống được bằng nghề và phát huy được tài năng.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế- xã hội Quốc gia: Nội dung chương trình học xa rời thực tế

Thực tế người có trình độ chuyên môn cao lại thất nghiệp, trong khi đó thị trường lao động lại cần lao động kỹ năng, đã dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Bên cạnh đó là vấn đề về chất lượng và nội dung đào tạo, ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp hầu như đều phải đào tạo lại, đào tạo qua thực tiễn, qua công việc hàng ngày, để giúp cho người lao động dần thích nghi với công việc. Quan trọng nhất là nội dung đào tạo phù hợp với thị trường lao động. Theo tôi, cần dự báo được nhu cầu lao động theo ngành nghề, để từ đó đào tạo nguồn cung cho phù hợp, đáp ứng và tạo sự kết nối với nhau.

Về tầm vĩ mô, các bộ liên quan phải ngồi lại để cùng rà soát lại về tình trạng sinh viên ra trường lại không tìm việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề; chỉ ra nguyên nhân tại sao dư thừa, từ đó kết nối cung cầu thị trường lao động. Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn chưa ngồi lại với nhau tìm ra giải pháp cũng như tiếng nói chung giải quyết vấn đề cung – cầu lao động.

Xuân Minh

(Theo baotintuc.vn )

Advertisements

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

(NVT)- Tại cuộc họp lần thứ nhất của ban chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức ngày 25/1/2013, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cho rằng “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Cũng trong một cuộc họp báo mới đây, Bộ trưởng Vũ Đức Đam đã khẳng định “ngay trong văn phòng chính phủ cũng có chuyên viên làm cả ngày nghỉ mà không hết việc trong khi có người lại rảnh rỗi”. Trên các phương tiện thông tin những ngày qua cũng đã đưa ra những con số đáng báo động về tỷ lệ công chức vô dụng, về tỷ lệ thu nhập ngoài lương của cán bộ, công chức có được từ phong bì họp,… Rõ ràng, đây là sự cảnh báo đối với tiến trình thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đến năm 2020 mà Chính phủ đã đề ra.

Báo ĐT Giáo dục Việt Nam : 3 nguyên nhân khiến nhiều cán bộ, công chức nhà nước ‘vô dụng’

Vậy, nguyên nhân gốc rễ cán bộ, công chức vô dụng là do đâu? Chúng ta cần câu trả lời thích đáng cho thực trạng này. Qua tìm hiểu, bài viết này xin góp phần chỉ ra những căn nguyên dẫn đến hiện tượng cán bộ, công chức vô dụng như sau:

Thứ nhất là do chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học ở nước ta còn thấp, cũng như công tác tuyển dụng cán bộ, công chức ít nhiều còn chưa được khách quan. Và cả 2 vấn đề này đều tạo ra những tiêu cực nhất định.

Ảnh minh họa (Nguồn: Vietnamnet.vn)

Một mặt là do thực trạng thương mại hóa trong quan hệ thầy, cô với sinh viên ở một số trường đại học không phải là không còn tồn tại, mà nó còn có xu hướng gia tăng. Đây chính là mối quan hệ mua bán không lành mạnh làm suy giảm chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, làm suy thoái đạo đức nghề trồng người và là mầm mống cho việc hình thành một số cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ “giấy”,… Trong các bậc giáo dục và đào tạo này thì đầu vào còn qua thi tuyển khó, nhưng đầu ra lại dễ (có thể nói vào được, về cơ bản sẽ ra được. Điều này ngược hẳn với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến vì đầu vào đại học và sau đại họckhông phải qua thi tuyển, nhưng đầu ra lại khó bởi họ chú trọng nhiều đến chất lượng vốn kiến thức cho sinh viên khi ra trường làm việc để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn),…

Tình trạng thuê viết tiểu luận, khóa luận, đồ án tốt nghiệp, luận văn cao học hay “đạo văn” các nghiên cứu có trước của một số sinh viên vẫn đang diễn ra (trong một số cửa hàng photocopy gần một số trường đại học ở Hà Nội diễn ra tình trạng bán khóa luận, luận văn cao học khá phổ biến với giá rẻ hoặc có thể tìm kiếm bằng các từ khóa ‘nhận viết tiểu luận, khóa luận, luận văn’ trên google thì cho thấy dịch vụ này đã xuất hiện từ Bắc đến Nam),…

Nội dung, chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học còn chưa đáp ứng được với nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thực tiễn phát triển, trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm của một bộ phận giảng viên còn hạn chế (tình trạng khi được tuyển dụng, các cơ quan, đơn vị phải đào tạo lại cán bộ mà hiệu quả công việc vẫn chẳng cải thiện là bao và tình trạng trong lớp học, giảng viên giảng ít đọc nhiều cho sinh viên chép là 1 minh chứng cho điều này). Đây cũng chính là một trong những căn nguyên cơ bản làm cho sinh viên khi ra trường không đáp ứng được với các bài thi khi cơ quan nhà nước tuyển dụng và nếu được tuyển dụng cũng không được khách quan và do đó khó có thể thực thi hiệu quả công việc được giao.

Chấn chỉnh khâu tuyển dụng cán bộ

Cơ quan Nhà nước tuyển dụng, sử dụng lao động theo tiêu chuẩn nào thì   Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết rồi: Thứ nhất “hậu duệ” (con ông   cháu cha), thứ hai “quan hệ”, thứ ba “tiền tệ”, cuối bảng mới là “trí tuệ”.   Theo công thức này, chắc chắn không tuyển được người giỏi, cũng không kích thích được sinh viên học cho giỏi. Vì thế, vấn đề ở đây là phải làm sao chấn   chỉnh được chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ (Nguồn: Báo nld.com.vn  ngày 13/4/2013 trong bài: Thất nghiệp nhiều quá: “Cái chết” được báo trước!

Mặt khác là thực trạng tiêu cực trong công tác tuyển dụng: tình trạng thiên vị các mối quan hệ thân quen cũng có xu hướng gia tăng tạo ra hoạt động thi tuyển công chức bất cập. Điều này đang tạo ra tâm lí nghi ngờ cho các cựu sinh viên có năng lực mới ra trường khi đi tìm việc trong cơ quan nhà nước vì cho rằng một số cơ quan nhà nước thông báo tuyển dụng chỉ là hình thức, có nộp hồ sơ và tham gia thi tuyển thì phần lớn vẫn bị trượt, do kết quả trúng tuyển có thể đã được “bỏ túi” trước.

Với thực trạng về giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học cũng như công tác tuyển dụng như nêu ở trên thì hoàn toàn có thể tạo ra hiệu ứng cán bộ, công chức cấp trên dung túng cán bộ, công chức cấp dưới và cán bộ, công chức cấp dưới lè phè không chú tâm trong công việc. Vì cả 2 loại cấp bậc cán bộ, công chức này đã mắc vào mối liên hệ phụ thuộc thân quen hoặc thông qua mua bán thì hiển nhiên sẽ tạo ra những cán bộ, công chức vô dụng hoặc làm việc kém hiệu quả.

 Thứ hai, một bộ phận cán bộ,công chức có năng lực và tâm huyết không được trọng dụng thì cũng sẽ là vô dụng, trong khi số cán bộ, công chức yếu kém năng lực không bị sa thải hoặc bố trí lại thì cũng đã và đang là vô dụng. Đây vừa là sự lãng phí sức lao động quý giá, vừa làm phình to nhân sự trong bộ máy nhà nước và làm thất thoát quỹ tiền lương của nhà nước bất hợp lý.

Không ái khác, cán bộ, công chức là chủ thể làm trong sạch, vững mạnh và điều khiển sự phát triển của bộ máy nhà nước nếu được tuyển dụng và sử dụng hợp lý. Vì trong mỗi đơn vị, cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả hay không, trong sạch, vững mạnh hay không, phục vụ tân tụy nhân dân hay không chính là mô hình, tác phong, chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức của đơn vị, cơ quan đó nếu như người lãnh đạo thực hiện công tác quản lí và điều hành các hoạt động của đơn vị mình một cách khoa học, biết dựa vào nguồn nhân lực và năng lực của cấp dưới trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định.

Tuy nhiên, quan niệm này không phải người lãnh đạo nào cũng có thể vận dụng được vì nhiều lí do khách quan, chủ quan khác nhau và cái tâm của người lãnh đạo đối với Đảng và Nhà nước ta. Ở các đơn vị, cơ quan mà người lãnh đạo không có khả năng hoặc không vận dụng quan niệm như đã nêu trên thì sức lao động quý giá của cán bộ, công chức có năng lực dễ bị triệt tiêu dẫn đến tình trạng người kém năng lực được quy hoạch để quản lí người có năng lực, và tiếp đến là người có năng lực đành phải chọn cách ra đi. Trong trường hợp này, cơ quan, đơn vị đó đã tạo ra những những cán bộ, công chức kém năng lực chiếm số đông để tạo lực cản cho người có năng lực muốn hiến kế chiếm số ít và từ đó dẫn đến việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan không được hiệu quả toàn diện. Điều này trái ngược hẳn với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Bởi lãnh đạo mỗi doanh nghiệp trong khu vực này luôn coi thời gian, sức lao động của người lao động trong doanh nghiệp mình là lợi nhuận và là sự phát triển của doanh nghiệp vì nếu không coi trọng 2 yếu tố đó, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại.

Thứ ba, lương thấp làm cho cán bộ, công chức thờ ơ với công việc: Thờ ơ với công việc cũng biểu hiện sự vô dụng- tác động xấu đến quan hệ giữa người dân với người công bộc.

– Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề về xã hội cho biết, hiện lương khối hành chính sự nghiệp chỉ bằng 70% khu vực doanh nghiệp. Phó vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, ông Lê Xuân Thành cũng thừa nhận, hiện lương ở khu vực Nhà nước, mới đảm bảo được 50% mức sống tối thiểu của công chức (Nguồn: Báo vnexpress.net ngày 12/4/2013 trong bài“Lương tối thiểu chưa bằng nửa mức sống”).

– Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện nay, có nhiều công chức đang giàu lên nhanh chóng, có ô tô xịn, biệt thự, đầy đủ tiện nghi cao cấp mà với mức lương của họ không thể nào có được. Đó chính là những khoản thu nhập ngoài lương, những đặc lợi (Nguồn: Báo tienphong.vn ngày 20/9/2010 trong bài “Nhận diện tham nhũng ngoài lương”) 

 Về bản chất, cán bộ, công chức là những người làm công ăn lương thì tối thiểu họ phải sống được bằng lương tối thiểu. Tuy nhiên, nếu lương tối thiểu không đủ trang trải cho mức sống tối thiểu thì buộc họ phải tự tìm các nguồn thu khác để tồn tại bằng mọi phương diện. Đây cũng là phản ứng tự nhiên của sự tồn tại.

Kể từ năm 1993 cho đến nay, nước ta đa có 12 lần tăng lương tối thiểu, với tốc độ tăng bình quân từ 16–20% hàng năm trong nhiều năm, song mức lương tối thiểu vẫn không đảm bảo cho mức sống tối thiểu của cán bộ, công chức. Bởi vì khi thông tin lương tăng thì giá cả một số mặt hàng thiết yếu lại tăng trước và tăng nhanh hơn cùng với các chi phí dịch vụ xã hội ngày càng đắt đỏ trong khi chất lượng dịch vụ lại không tương ứng.

Có thể nói, cả 03 nguyên nhân nêu trên đều có thể nhập vai là “cha đẻ” của những tiêu cực tạo ra số cán bộ, công chức vô dụng hiện nay và là nhân tố có thể góp phần tạo ra hiệu ứng “Người có năng lực thì không được trọng dụng nên đành phải bỏ cơ quan nhà nước để ra ngoài làm. Người không có năng lực thì cố bám trụ nhà nước vì không thể kiếm được việc làm ở khu vực ngoài nhà nước. Nghịch lý này mà lan rộng ra thì hệ quả là số cán bộ, công chức vô dụng sẽ không thể bị đầy lùi”.

(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả)

 

Vài nhận định về kiến thức của TS Dương trong khi giảng liên quan đến việc vay và nợ của DN

(NVT)- Mặc dù muốn nghe hết tất cả các Clip mà TS Dương giảng trong buổi giảng văng tục vừa qua để có những quan điểm cá nhân về chuyên môn buổi giảng hôm đó của TS. Song chỉ nghe đến đoạn TS nói về việc vay và nợ của DN thì tôi không muốn nghe tiếp nữa vì nghe đã thấy không thuyết phục rồi. Nên tôi đã đọc bài Độc giả ‘mổ xẻ’ kiến thức trong bài giảng của TS Lê Thẩm Dương trên báo GDVN.

Ngoài những điều mà tác giả bài viết nêu trên đã nói (đồng ý hoàn toàn hay không thì tôi chưa nói!). Song, tôi xin bổ sung  ý kiến cá nhân của mình sau đây bàn về những lời giảng của TS Dương liên quan đến việc vay và nợ vốn của DN. Tất nhiên khi nói về các khoản nợ của DN, TS nói rất ít, nội dung chính của TS nói chỉ là: là nhà DN anh phải vay, phải nợ…

Thứ nhất, việc vay vốn, nợ tiền của DN là 1 điều tất yếu tùy vào từng chu trình phát triển của DN trong hoạt động của mình. Vì vậy, không 1 nhà doanh nghiệp nào hoặc 1 giám đốc nào không biết việc đó cả. Thậm chí, khi thiếu vốn, nhà DN trong nhiều trường hợp còn phải mạo hiểm để tìm cách vay vốn cho việc kinh doanh, sản xuất của mình. Nói rộng hơn, việc vay và nợ vốn của DN giống như việc cá nhân mỗi người đều phải nợ (nợ tình, nợ ân nghĩa….) trong cuộc đời vậy. Điều giống này là ở chỗ “ Tất yếu”. Nghĩa là:

Một doanh nghiệp hay 1 cá nhân nào đó trong quá trình “sống” của mình đều phải vay và nợ.

Việc vay vốn thì DN nghiệp của anh trong quá trình phát triển, anh phải biết vay, biết nợ, biết trả. Không biết những việc này, đặc biệt là biết trả thì anh sẽ “chết”. Để không chết, anh phải tính trước, lường sau để có được những bước đi phù hợp, hiệu quả sao cho tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí…(QTDN)

Còn việc nợ đời (nợ tình, nợ nghĩa….) thì trong suốt cuộc sống anh phải biết ứng xử, không biết ứng xử không ai cho anh nợ tiếp và như vậy hồn tình, hồn nghĩa của anh cũng sẽ “chết”….( QT cuộc đời)

Vì vậy,với kiến thức mà khi TS giảng cho những người mà họ đang là những người điều hành DN hoặc những người đã có ít nhiều kinh nghiệm về hoạt động doanh nghiệp. Theo tôi, tối thiểu họ đã có 1 bằng đại học về kinh tế thì họ còn hiểu hơn TS về nhu cầu vốn của họ, họ quá biết rõ hơn TS về việc họ phải vay để phát triển như thế nào, có chăng họ chỉ cần cố vấn cho họ là vay để đầu tư vào lĩnh vực A nào đó mà thôi… Bản thân mỗi DN khi ra đời, người chủ đã tính toán và biết được là khi thiếu vốn là phải đi vay rồi.

Chứ TS chỉ nói vay, nói nợ mà không nói đến trả thì họ cứ thế họ vay để rồi không cẩn thận 1 ngày nào đó có thể họ “chết” là do kiến thức của TS đấy…

Thứ hai, từ những điều nêu trên, theo tôi, với những lời giảng  của TS về vay và nợ của doanh nghiệp là rất tầm thường, là rất đại cương mà 1 sinh viên kinh tế nói chung ở năm thứ 3 cũng hiểu được. Hốn chi đây là 1 buổi dành cho các đối tượng là nhà quản lí, nhà điều hành DN nói chung.

(Bài trên Báo GD: Bài giảng có văng tục của TS Dương “là sự lệch chuẩn về văn hóa”  tôi  đã minh chứng và cho rằng việc TS so sánh việc chung cư cao cấp khó bán giống như việc phụ nữ xinh đẹp khó lấy chống…là phiến diện, là không thuyết phục. Bởi trong Clip không thấy nói gì về mặt lí thuyết cũng như lí luận gì  để soi vào thị trường bất động sản cả, mà cụ thể là tại sao không lí giải chưng cư cao cấp lại khó bán?, khó bán gồm những nguyên nhân gì? và không thấy vận dụng vào 1 trường hợp cụ thể nào vào thị trường chung cư cao cấp như ở HCM hoặc HN cả…?. Đã thế trong khi giảng lại so sánh với PN đẹp khó lấy chồng giống như chưng cư cao cấp khó bán. 2 vấn đề này chẳng liên gì đến nhau cả, thiếu gì ví dụ có liên quan đến các loại thị trường để mà so sánh….!)

Vụ TS văng tục: Cho rằng độc giả coi văng tục là chuyện bình thường trong giờ học là đáng nghi ngờ!

(NVT)- Từ mấy ngày nay, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam tiến hành lấy ý kiến nhận xét của độc giả về việc văng tục trên bục giảng của 1 trí thức có học vị tiến sĩ xuất phát điểm từ việc văng tục của ông Lê Thẩm Dương (TS, GV trường ĐH Ngân hàng TP Hồ Chí Minh) . Kết quả cho thấy, đại đa số các ý kiến đều cho rằng việc văng tục là chuyện bình thường!.

Một nền giáo dục dễ bị tổn thương

Khi thày Dương nói… bậy!

Tiến sĩ văng tục, giáo dục đi đến đâu?

Liên quan đến vụ việc này, nữ Tiến sỹ Trần Phương Lan (Viện Quản trị kinh doanh FSB, đơn vị tổ chức lớp học và mời ông Dương tham gia thuyết giảng) khi được hỏi thì cho rằng sự đùa cợt của TS Dương  sẽ tạo nên sự hấp dẫn của buổi giảng, việc TS Dương nói đùa cợt liên quan đến phụ nữ là để dẫn dắt câu chuyện …Nếu như đặt ở bối cảnh trong bục giảng sinh viên đại học chắc các em sẽ bị sốc, bởi lẽ các em chưa thể thẩm thấu được nhưng nếu đặt bối cảnh những học viên ở đây là doanh nghiệp thì sẽ thấy rất bình thường, thậm chí là hay!,…(xem thêm bài:Lãnh đạo Viện FSB lên tiếng trong vụ Tiến sĩ văng tục trên báo giáo dục ngày 13/3/2012).

Theo tính toán thì có khoảng 90% độc giả chọn phương án trả lời 1 cho rằng văng tục trên bục giảng là bình thường xét ở 3 chỉ báo-thang đo mà báo đưa ra (1:Thấy bình thường, 2: Không thể chấp nhận được việc đó, 3: Như vậy là thiếu văn hóa, nhất là đứng trên bục giảng).

Quan điểm của người viết bài này cho rằng nữ TS Trần Phương Lan bày tỏ quan điểm, so sánh như trên trong hoàn cảnh này là hết sức phiến diện xét trên phương diện văn hóa trong quan hệ nhóm trí thức, nhóm nhà doanh nghiệp, nhóm sinh viên nói riêng và xét cả trên quan hệ công chúng nói chung…

Hốn chi đây lại là một lớp học, một buổi giảng ở 1 trường đại học lớn mà các đối tượng tham gia là những người điều hành doanh nghiệp, những người có thể sẽ là doanh nhân thành đạt sau này khi mà họ và chúng ta đang bàn đến rất nhiều về một trong những nhân tố chủ đạo của sự phát triển bền vững và thành công của doanh nghiệp nói chung. Đó là văn hóa doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…

Trước khi đưa ra những lí giải cho việc phủ định ý kiến đại đa số độc giả cho rằng việc văng tục trên bục giảng là bình thường . Tác giả cho rằng việc quan tâm và tiến hành lấy ý kiến của báo giáo dục về việc này là rất cần thiết, rất đáng hoan nghênh vì việc này nó không chỉ có cách nhìn biện chứng đa chiều không chỉ đối với nhà nghiên cứu,… Mặc dù đối tượng lấy ý kiến là toàn bộ người đọc nói chung của báo.

Mặt lượng không thể đáng tin cậy và đảm bảo tính đại diện nếu…?

Theo tính toán thì có khoảng 90%  độc giả  chọn phương án trả lời một cho rằng văng tục trên bục giảng là bình thường xét ở 3 chỉ báo-thang đo mà báo đưa ra (1:Thấy bình thường, 2: Không thể chấp nhận được việc đó, 3: Như vậy là thiếu văn hóa, nhất là đứng trên bục giảng).

Nếu chỉ căn cứ vào số liệu chưa biết “nói” này thì chúng ta sẽ cho rằng đây có thể là hồi chuông cảnh báo đối với việc chấp nhận phương pháp giảng dạy lệch chuẩn này. Song, nếu chúng ta nhìn vào phương pháp lấy ý kiến, đặt sự nghì ngờ việc một số người có thể lựa chọn 1 phương án nhiều lần thì ta cho rằng con số đó là không khách quan, không đáng tin cậy, không có ý nghĩa và cũng là chuyện bình thường. Tại sao?

Vì khi tham gia, độc giả chỉ cần 2 thao tác “lựa chọn phương án trả lời và chọn” là xong. Kết quả của việc xử lí tự động này chỉ khách quan khi người tham gia trung thực muốn góp thêm suy nghĩ chính đáng của mình vào việc đổi mới phương pháp dạy và học. Còn nếu người tham gia không trung thực, không thể hiện trách nhiệm thực sự như báo mong muốn hoặc vì 1 động cơ xấu nào đó thì hoàn toàn kết quả sẽ là không đáng tin cậy bởi vì anh ta đã lựa chọn 1 phương án bằng nhiều lần khác nhau, hoặc có thể huy động bàn bè làm theo ý đồ của anh ta!….

Xin đưa thêm 1 ví dụ nữa để chứng minh cho việc này là khi tham gia bình chọn  2 nhân vật A và B được một tờ báo điện tử nào đó tiến hành, với yêu cầu người bình chọn phải cung cấp thông tin về danh tính, địa chỉ Mail thì mới tham gia bình chọn được, và mỗi địa chỉ Mail chỉ được tham gia bình chọn 1 lần, mỗi máy tính nối mạng khi đã bình chọn thì phải sau 5 phút mới được bình chọn tiếp,…Như vậy, giả sử  người tham gia bình chọn mà vì 1 lí do không lành mạnh nào đó thì hoàn toàn có thể tạo nhiều Mail để bình chọn cho mục đích của mình,…Hoặc trong trường hợp này, nếu xét về khía cạnh tâm lí, mỗi nhân vật được đưa ra để bình chọn đều mong muốn mình là người được bình chọn cao nhất. Do vậy, anh ta cũng hoàn toàn có thể tìm cách bằng cách huy động những người quen bình chọn cho anh ta?…Như vậy, việc bình chọn này cũng sẽ là không khách quan.

Vậy, với kết quả đại đa số đọc giả cho rằng 1 vị tiến sĩ mà văng tục trên bục giảng là điều bình thường là hoàn toàn đáng nghi ngờ dựa trên những lập luận đã nêu ở trên? và vì vậy không thể coi kết quả đó có tính đại diện trên diện rộng được với 1 phương pháp thu thập đơn giản như báo giáo dục tiến hành, với cách trả lời vô tâm của độc giả nào đó chẳng hạn?. Một minh chứng nữa cho vụ việc này ở khía cạnh phân tích định tính sau đây.

Phân tích định tích có thể phủ định kết quả định lượng nếu…?

Khi đề cập đến nghề trồng người. Tâm lí cá nhân, truyền thống người Việt Nam rất đề cao đến khuôn mẫu ứng xử, đến lời hay ý đẹp của người thầy và người trò không chỉ trong lớp học, đề cao việc tôn sư trọng đạo, đề cao văn hóa truyền thống hiếu học của người Việt thì chúng ta  khẳng định được con số 90% cho rằng việc văng tục trên bục giảng là bình thường cũng hoàn toàn không khách quan, không đại diện cho phần lớn người Việt ta,cũng chẳng có ý nghĩa gì để gọi đây là luồng ý kiến thuộc dư luận xã hội.

 Thậm chí ngay cả khi phương  pháp giảng dạy ở không ít những người thầy, người cô còn ít nhiều có vấn đề nhất định làm cho không ít người học nhàm chán thì yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy là cấp thiết nhưng cũng không thể chấp nhận được đối với những buổi giảng được lồng ghép những lời tục tíu ở một nhà giáo. Đây chính là giá trị vô hình bất biến đề cao sự nghiệp trồng người, đề cao đức và tài của người giáo viên nhân dân của đại đa số người dân Việt cũng chính một phần là ở chỗ này. Vì vậy người Việt ta mới coi nghề giáo là nghề cao cả và thiêng liêng bởi nghề này không chỉ là dạy chữ tâm, chữ đời…

Lời kết: Chắc chẵn rằng phần lớn người Việt Nam chúng ta nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng không bao giờ đồng ý về việc 1 trí thức, một người thầy mà văng tục trên bục giảng là chuyện bình thường cả. Thậm chí ngay cả yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục, mục đích giáo dục trở nên cấp bách thì họ cũng không chấp nhận việc “phá rào” kiều này.

Lại bàn về vụ tiến sĩ văng tục

(NVT)-Trong khi giảng, TS Lê Thẩm Dương đã có một số ngôn từ văng tục đang gây xôn xao dư luận. Có ý kiến thì cho là bình thường, có ý kiến thì bất bình. Tiến sỹ Trần Phương Lan, Phó viện trưởng Viện Quản trị kinh doanh FSB – Đại học FPT cho rằng những lời văng tục của TS Dương là sự đùa cợt  sẽ tạo nên sự hấp dẫn của buổi giảng.…! Việc Báo điện tử giáo dục Việt Nam đã tiến hành lấy ý kiến của độc giả về vụ việc này, kết quả cho thấy đại đa số độc giả cho rằng những văng tục của TS Dương là bình thường. Vậy, kết quả này có đáng tin cậy không???

Một nền giáo dục sẽ bị tổn thương

Quan điểm của tác giả bài viết này cho rằng những phát ngôn trong buổi giảng của TS Dương vừa qua là có dấu hiệu về sự lệch chuẩn văn hóa nói chung, về thuần phong mỹ tục và đạo đức người giáo viên nhân dân nói riêng.

Qua xem và nghe lại những phát ngôn trong đoạn Clip của TS Dương thì cá nhân tác giả của bài viết này cho rằng đây là một buổi giảng bài chứ không thể là buổi trò chuyện, trao đổi như ngồi uống cafe mà TS đã giải thích được.

Để bàn về một số lời giảng (phát ngôn) của TS Dương. Bài viết này không bàn đến mục đích và tất cả nội dung của buổi giảng đó vì không đủ thông tin. Song, có thể coi một số phát ngôn văng tục của TS là sai lệch xét ở góc độ phương pháp giảng dạy, là chưa thuyết phục xét ở góc độ chuyên môn…

Về phát ngôn trong buổi giảng

Một phương pháp giảng dạy hiệu quả chính là cách thức truyền tải những tri thức cho người học sao cho dễ hiểu nhất. Nhưng trong môi trường văn hóa và giáo dục, nếu người thầy sử dụng tất cả những biện pháp. Trong đó có dùng những ngôn từ tiêu cực – thiếu văn hóa để lý giải làm cho người học chú ý và dễ hiểu thì cũng không thể coi là phương pháp giảng dạy hiệu quả và hay xét về góc độ nghề trồng người. Thậm chí gọi những phát ngôn tiêu cực này là phản giáo dục, là có tính đế quốc văn hóa tượng trưng. Bởi môi trường giáo dục càng trong sạch là môi trường phải càng hướng đến những lời hay, ý đẹp và thân thiện ở bất kỳ cấp học nào,…Là nhà giáo, với tư cách là một nghề “chèo bến sông đời nhân văn” lại càng phải đi tiên phong trong việc này không chỉ ở lớp học, không chỉ ở trường học,…Đức và tài không thể thiếu ở nghề cao quý này!

Trong buổi giảng, TS đã sử dụng những ngôn từ như: “thằng giám đốc…”, “đái ra quần…”, “mẹ mua chịu của nó…”, “cái thằng đàn ông Việt Nam không thể chấp nhận được, gia trưởng, ăn xong trợn mắt trợn mũi phi mẹ lên giường ngủ…”, “mẹ, nó lấy gối nó nhét vào mồm mày…”…

Với một số phát ngôn vừa nêu trên của TS trong lớp học vừa qua là không thể chấp nhận được xét cả ở góc độ văn hóa giao tiếp- ứng xử, xét cả ở góc độ phương pháp trong giảng dạy,… Cứ cho là việc TS nói như vậy là thu hút được sự chú ý của các học viên đi, làm cho học viên hiểu rõ được nội dung mà TS đang đề cập đi thì cũng chỉ có thể gọi những phát ngôn này là những lời giảng tồn tại chỉ có ở trong phương pháp giảng dạy lệch chuẩn mà thôi!.

Nội dung giảng, minh chứng chưa thuyết phục?

Việc bán chung cư cao cấp khó bán là một hiện tượng kinh tế trong kinh doanh. Hiện tượng này xảy ra khi cung thừa, cầu thiếu. Nguyên nhân của hiện tượng này là do chủ đầu tư thiếu hiểu biết về thị trường bất động sản hiện tại, dự báo sai về sự vận động của cung và cầu trên thị trường…

Còn việc phụ nữ xinh đẹp khó lấy chồng, nếu có thì không phải là một hiện tượng kinh tế, không phụ thuộc vào cung và cầu. Nói đúng hơn, cần nhìn nhận vấn đề này ở khía cạnh tâm lý cá nhân. Do vậy, không thể coi việc bán chung cư cao cấp khó khăn giống như người phụ nữ đẹp khó lấy chồng được. Trong trường hợp cụ thể nào đó, tôi đồng ý là có thể lấy một minh chứng A nào đó để phân tích, giải thích cho 1 vấn đề A khác để người học hiểu được nội dung chính cần đề cập…Song ở đây, trong vấn đề này thì không nên giảng, lồng ghép minh chứng như vậy.

Giảng ít, đọc và viết nhiều là phương pháp lạc hậu trong giáo dục đại học?

Thực tế, giáo dục đại học ở nước ta vẫn có không ít những giảng viên lên lớp giảng thì ít mà đọc cho sinh viên ghi chép là nhiều. Đặc biệt là ở các ngành khoa học xã hội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì cũng chỉ có thể gọi đây là phương pháp không phù hợp?. Vì nó có thể làm cho sinh viên hiểu không đầy đủ, thậm chí là không hiểu về nội dung mà người giảng viên đề cập do phải tập chung nghi chép. Nhiều khi sinh viên về nhà đọc lại cũng chưa chắc đã hiểu được đầy đủ nội dung mà thầy, cô giáo đọc cho mình ghi chép. Phải chăng, đây cũng là yếu tố làm cho sinh viên nhàm chán, không hứng thú với việc giảng ít, đọc và viết nhiều?. Nên trong giờ học mà giảng nhiều, viết ít sẽ gây sự chú ý của sinh viên?…

Còn phương pháp giảng dạy của người giảng viên bằng cách giảng nhiều,dẫn chứng nhiều, trao đổi nhiều, chỉ đọc cho sinh viên ghi chép những ý chính, chỉ cho sinh viên các tài liệu cần tham khảo về vấn đề là phương pháp hiệu quả cao mà nhiều nước như Pháp, Mỹ, Đức…đang áp dụng. Chẳng hạn như giáo dục đại học và cao học ở một số trường đại học ở Pháp, thường khi bắt đầu vào học 1 môn nào đó, hoặc 1 chủ đề nào đó. Ngay buổi đầu tiên bắt đầu giảng, giáo viên thường chỉ tên tài liệu cần tham khảo cho các sinh viên. Thậm chí trong khi giáo viên giảng, sinh viên nào quan tâm được những ý gì thì tự sinh viên đó ghi chép, hoặc có thể trao đổi cùng với giáo viên. Những điều này làm cho sinh viên tự chủ động học và nghe giảng hơn, làm cho không khi lớp học được sôi nổi và tích cực. Do vậy, có thể gọi đây là phương pháp giảng và học 2 chiều hiệu quả của thầy trò nói chung, và cũng là cách thức tự chủ động lĩnh hội kiến thức của người sinh viên trong giờ học nói riêng?…

Phải chăng phương pháp “Giảng ít, đọc và viết nhiều” của giáo viên là bộc lộ yếu kém về chuyên môn và phương pháp của người thầy, người cô không?, là có dấu hiệu của việc không yêu nghề chăng?, là có dấu hiệu chỉ là trách nhiệm chăng?

Tết này sum họp lại vắng con

(NVT)- Theo truyền thống hàng năm thì cứ mùng 2 Tết là đại gia đình mình lại sum họp, quây quần đầy đủ, nhưng Tết này, con lại ở Paris.

Tết nhớ mẹ cha vất vả thời bao cấp

Bố mẹ thương mến,

Thế là cái Tết lại đang đến gần rồi. Xóm làng ta lại đang tưng bừng chào đón xuân về. Con ở xa bố mẹ mà trong đầu cứ hình tưởng ra thời khắc chuyển giao sang năm mới đang đến rất gần và đang mang đến cho đại gia đình mình một luống khí ấm áp của mùa xuân luôn tạo hóa ra những điều tốt đẹp nhất, nó đến gần ngõ nhà ta rồi. Giao thừa bố mẹ lại được chào đón nó!

Con xin gửi đến bố mẹ cùng toàn thể đại gia tộc nhà ta một năm mới Nhâm Thìn đầy ắp những thành công. Gửi riêng đến bố mẹ lời chúc sức khỏe thật trường thọ, mãi mãi vui tươi.

Bố ạ, con thương bố nhiều lắm, bố đã già, lại mang trong mình bệnh tật và hàng tuần bố phải tự tiêm theo chỉ dẫn của bác sĩ. Dẫu vậy mà bố vẫn luôn âm thầm ngày đêm quan tâm đến con, con biết rằng sự thành công nối tiếp của con luôn là sức đề kháng, là niềm vui để góp phần cho bố thêm trường thọ.

Thời còn bé, có lần con hư, bố đã dạy và nói cho con biết, “gia đình như một bàn tay có năm ngón, nếu không may mà có một ngón bị đau, bị nhức, thì cả bàn tay đều nhức”. Con nhớ lắm, nhớ vĩnh viễn lời dạy đó bố ạ!

Ở bên này, bố hãy yên tâm là con trai bố luôn cố gắng học tập và nghiên cứu trong khả năng tối đa của mình. Mới đây, đánh giá về tiến độ công trình nghiên cứu khoa học của con, giáo sư hướng dẫn đề tài của con, kiêm hiệu trưởng trường đạo tạo tiến sĩ kinh tế, tổ chức, xã hội, có nhận xét “công trình nghiên cứu này đang tiến triển rất tốt và chúng tôi sẽ bảo vệ nó cuối năm nay”!

Mẹ ạ, con yêu mẹ hết lòng, dù mẹ đã ngoài 70 tuổi rồi, lại do tai biến của một trận ốm nặng năm xưa để lại hậu quả vĩnh viễn cho mẹ là đôi chân đi lại khập khiễng. Song, mẹ đã không ngừng nỗ lực, không ngại gian truân, không ngại thức đêm và dậy sớm để kiếm tiền nuôi dạy anh chị con và con được như ngày hôm nay. Công lao đó, chúng con mãi mãi ghi khắc sâu trong lòng.

Con ở xa, tuy đã trưởng thành. Nhưng mẹ vẫn luôn lo lắng cho con, quan tâm đến từng bữa ăn, giấc ngủ của con. Mỗi lần mẹ gọi điện cho con là mẹ hỏi, con khỏe không, ăn uống có sướng không?…

Bố mẹ kính mến,

Ở xa bố mẹ, lòng con càng thấm thía tình thương của bố mẹ dành cho con nói riêng, cho các chị con và anh con nói chung. Tết cổ truyền dân tộc đang đến gần, thời khắc thiêng liêng chuyển giao sang năm Nhâm Thìn chỉ còn đếm bằng giờ, trong lòng con lại nhớ lại lời bố mẹ kể năm xưa mỗi khi Tết đến.

Đó là bố mẹ lại phải lo trước những bộ quần áo mới cho chị, anh em chúng con diện Tết, rồi những lần xếp hàng chờ phát tem để đong gạo, đổi thịt… và phải chở bằng xe cải tiến hoặc gánh về nhà ở thời kỳ bao cấp.

Những điều này mãi mãi đi cùng với con trong cuộc sống phía trước, nó luôn hiện hữu như một kỷ niệm, một đòn bẩy giúp con thấu hiểu về thời kỳ khó khăn chung của cả nước để con tiến lên với thành công kết nối thành công trên con đường còn lại của cuộc đời dài. Con nghĩ rằng, phải biết nhìn nhận lại những lời kể về khó khăn năm xưa của bố mẹ mới tăng thêm ý chí để cho con vững bước.

Đất nước ta giờ đã đổi thay căn bản so với thời kỳ khó khăn đó. Nhờ vào sự đổi mới này và sự định hướng của bố mẹ mà chị em chúng con có được như ngày hôm nay. Vì vậy, con nhận thấy rằng con phải luôn luôn nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ mà nhà nước giao cho. Đây cũng là sự mong chờ của bố mẹ và cũng là khúc khải hoàn ca của riêng con!

Tết của ngoại thời bao cấp

Vì nghèo, tiến sĩ bỏ viện ra đi

GS Nguyễn Lân Dũng khuyên một tiến sĩ giỏi ở lại viện làm việc một thời gian, vì suốt thời gian đi học, nhiều người đã phải gánh việc hộ anh. Nhưng ông đành chịu thua khi nhân viên trẻ này nói đừng để anh nhỡ cơ hội làm giàu.

29.000 tiến sĩ và chiến dịch xóa bỏ ‘xôi chấm xôi’

Đến 2020 sẽ có 29.000 tiến sĩ dạy đại học

Vẫn cách nói chuyện hóm hỉnh và gần gũi, GS Nguyễn Lân Dũng gặp gỡ các nhà khoa học tại Đai hội lần thứ hai của Hội Khoa học phát triển nguồn nhân lực nhân tài Việt Nam (ngày 8/1) và chia sẻ những câu chuyện đời thường mà ông đã chứng kiến về chuyện trọng dụng nhân tài.

Lương trò không thể hơn lương thầy?

Nghe GS Nguyễn Lân Dũng kể chuyện những hoàn cảnh người tài của Việt Nam, bỗng thấy xuất hiện thêm một kiểu số phận mới: Người học ở nước ngoài về, có thể được hưởng mức lương “cao chót vót” nhờ chính sách ưu đãi mạnh dạn của một số địa phương (đó là so với mức lương của những người làm cùng) nhưng cũng không hề sung sướng gì.

“Tôi biết có một anh tiến sỹ học ở Bắc Mỹ về, một thành phố cho hưởng chính sách ưu đãi với mức lương 1000 USD/tháng, cũng chưa phải là cao gì lắm. Nhưng anh ấy tự nhiên bị cô lập, rất khó hợp tác với các đồng nghiệp trong nước. Vì sao vậy? Thật đơn giản, anh từ trường ĐH ấy cử đi học, về chưa làm được gì vậy mà lương bỗng nhiên gấp hơn 5 lần các thầy giáo vừa dậy anh cách đây có vài năm!”.

“Tôi biết có một anh tiến sỹ học ở Bắc Mỹ về, một thành phố cho hưởng chính sách ưu đãi với mức lương 1000 USD/tháng, cũng chưa phải là cao gì lắm. Nhưng anh ấy tự nhiên bị cô lập, rất khó hợp tác với các đồng nghiệp trong nước.”.

GS Nguyễn Lân Dũng nói: “Lương trò không dễ dàng gì bỗng nhiên cao hơn lương thầy nhiều như thế được. Ở nước ngoài có thể như thế nhưng ở Việt Nam thì rất khó. Chúng ta không nên trả lương cho cái bằng, mà cần trả cho hiệu quả của công việc mà anh ta sẽ làm. Muốn thế, cơ quan nhà nước phải biết ai giỏi đến đâu để giao việc đến đấy. Sau đó căn cứ vào hiệu quả cống hiến để xếp lương hay phụ cấp tương xứng.”

Ông cho rằng Hội Khoa học Phát triển nguồn nhân lực nhân tài Việt Nam nên tập trung nghiên cứu chính sách sử dụng người tài.

Nhắc đến chuyện này, GS Nguyễn Lân Dũng nhớ lại: “Mỗi năm Quốc hội dành 600 triệu USD cho sự nghiệp khoa học nhưng thành tựu khoa học cứ ở đâu, đi đâu, chẳng thấy mấy hiệu quả cụ thể”.

GS Dũng muốn Hội tham gia thẩm định xem chính sách phân chia kinh phí dành cho sự nghiệp khoa học hiện nay đã hợp lý chưa, hay là đang được phân bổ một cách dàn trải và kém hiệu quả?

Từ kinh nghiệm của ông khi xây dựng và phát triển Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (ĐHQG Hà Nội), tất cả chỉ được Nhà nước đầu tư có trên 3 triệu USD nhưng đã thực sự thay đổi chất lượng của một Viện Nghiên cứu cấp Quốc gia và bước đầu đã có thể hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả, đã có thể có những sản phẩm phục vụ trực tiếp cho sản xuất. Vậy thì, 600 triệu USD so với nước khác thì không đáng là bao nhưng ở nước ta là lớn lắm chứ!

Bản thân GS Nguyễn Lân Dũng đã từng là người làm những công việc cụ thể liên quan đến nghiên cứu khoa học và quản lý cán bộ, vì vậy, ông hiểu việc sử dụng đồng tiền thích đáng trong đầu tư nghiên cứu khoa học sẽ có tác dụng rất tích cực đến nhiều mặt, trong đó có mặt quan trọng là tạo điều kiện để có thể lôi kéo được các Thạc sĩ, Tiến sĩ trẻ được đào tạo từ các nước tiên tiến về làm việc.

Ông kể chuyện, hiện nay những cán bộ phụ trách Viện đang phải rất vất vả để tìm cách lập phân xưởng pilot trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhằm hỗ trợ thêm cho mức lương quá thấp của Nhà nước dành cho trí thức. Nếu không làm được như vậy thì các công ty dễ dàng lấy hết người giỏi từ các Trường Đại học, các Viện nghiên cứu.

Vì nghèo, tiến sĩ giỏi bỏ viện….đi

“Tôi đã khuyên một TS giỏi cần ở lại Viện làm việc ít ra là một thời gian, vì suốt thời gian đi học bao nhiêu anh chị em đã phải gánh vác công việc thay cho mình. Nhưng tôi chịu thua khi em ấy nói: Thầy ơi em nghèo lắm , Thầy để em đi không thì nhỡ mất cơ hội ”(!) – GS Nguyễn Lân Dũng ưu tư.

Những chuyện như thế GS Nguyễn Lân Dũng gặp rất nhiều. Ông kể, rất nhiều lần gặp nghiên cứu sinh Việt Nam đang được đào tạo ở nước ngoài, phần lớn rất giỏi nên được coi trọng và muốn giữ lại với mức lương tới 3-4 nghìn USD mỗi tháng. Mời các em về nước, với mức lương cao lắm cũng chưa đến 200 USD thì thật là khó quá.

Không phải em nào cũng muốn ở lại nước ngoài, nhưng nếu về nước thì một là , phải có điều kiện trang thiết bị để tiếp tục phát huy vốn kiến thức đã được đào tạo và hai là, ít ra cũng phải đủ sống để có thể toàn tâm toàn ý làm khoa học. Cả hai chuyện ấy thật đâu có dễ trong hoàn cảnh hiện nay. GS toàn nhận được những câu như: “Thầy ơi, em đi bằng tiền của gia đình mà, em không về đâu!”.

“Tôi đã khuyên một TS giỏi cần ở lại Viện làm việc ít ra là một thời gian, vì suốt thời gian đi học bao nhiêu anh chị em đã phải gánh vác công việc thay cho mình. Nhưng tôi chịu thua khi em ấy nói: Thầy ơi em nghèo lắm , Thầy để em đi không thì nhỡ mất cơ hội ”(!) – GS Nguyễn Lân Dũng ưu tư.

Còn những người thật sự giỏi giang đã về nước thì sao? GS Dũng nói đến một trường hợp mà ông rất quan tâm và đánh giá rất cao. Đó là một công ty Công nghệ sinh học được xây dựng rất hiện đại bằng tiền cá nhân của một Việt kiều. Tại đó, các sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn quốc tế và trực tiếp phục vụ cho đời sống của nhân dân. Các kỹ thuật tái tổ hợp gen đã được chuyển giao về nước để làm ra những sản phẩm không thua kém gì nước ngoài.

Vậy mà chỉ vì sự cạnh tranh không lành mạnh của vài công ty nước ngoài đã đặt chân lâu năm ở nước ta, cộng với sự quản lý chưa rành mạch của các cơ quan quản lý mà những sản phẩm quý giá kia gặp rất nhiều khó khăn để tiêu thụ trong nước.

Nhà trí thức Việt kiều kia đã phải nghĩ đến chuyện xuất khẩu ra các nước khác (!?). Thật xót xa đến mức quá khó hiểu. Cứ tiếp tục như vậy thì làm sao kêu gọi được sự chung sức xây dựng đất nước của trên 400 nghìn trí thức người Việt mà vì một hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt họ đang làm việc tại không ít các trung tâm khoa học tiên tiến trên thế giới.

GS Nguyễn Lân Dũng: Không phải chỉ là chuyện lương bổng.Bức xúc nhất hiện nay là cần xây dựng một nền khoa học vững mạnh , trước hết là cái nền móng, tức là các ngành khoa học cơ bản. Các trường ĐH đào tạo các ngành khoa học cơ bản cần tuyển những học sinh xuất sắc, muốn vậy phải có chính sách ưu đãi thì mới tuyển được.

Cụ thể là cần miễn học phí và cần tạo công việc thích hợp cho các em sau khi tốt nghiệp.

Tiền lương là câu chuyện lâu dài, trước mắt cần trao nhiệm vụ cho từng cán bộ khoa học có trình độ cao ở từng lĩnh vực với những kinh phí thỏa đáng để vừa đủ điều kiện làm việc , vừa đủ sống.

Đã ở cương vị lãnh đạo thì phải biết đến từng người tài giỏi, từng đơn vị tài giỏi trong từng lĩnh vực để giao nhiệm vụ chứ đâu cứ duy trì mãi chế độ Xin-Cho còn rất thiếu lành mạnh như hiện nay.

Nhã Uyên (Theo Vietnamnet.vn)

%d bloggers like this: