Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta

Lao động làm công ăn lương ở nước ta đang trong xu hướng phát triển, đặc biệt là phát triển trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Điều này đồng nghĩa với thị trường lao động ở nước ta cũng đang trong xu hướng phát triển. Bên cạnh xu hướng phát triển vừa nêu cần được quan tâm thì chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình ở nước ta cũng đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhân dịp số đặc biệt Mừng Xuân 2017, Mừng đất nước đổi mới, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Văn Thuật với chủ đề “Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta”.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

PV: Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Đề cập đến lao động làm công ăn lương và sự phát triển của nó là một vấn đề khá vĩ mô, khá rộng lớn trong kinh tế thị trường. Bởi sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản có tác động tích cực vào cấu trúc kinh tế – xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản của kinh tế thị trường nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi của cuộc trao đổi này, tôi xin trả lời khái quát như sau:

Ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung như Mỹ, Anh, Đức, Pháp,…,lao động làm công ăn lương chiếm dao động khoảng từ 80 – 90% lực lượng lao động. Có thể nói, tỷ lệ này là một chỉ báo quan trọng góp phần giúp cho việc nghiên cứu, phân tích để phản ánh và lý giải trình độ phát triển kinh tế – xã hội chung của mỗi quốc gia. Nói cách khác, sự phát triển của lao động làm công ăn lương là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường chính là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một sâu rộng hơn của mỗi nền kinh tế trong bối cảnh mỗi quốc gia đều phải chủ động tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa. Xét cho cùng, có thể thấy, nếu không có sự phát triển của lao động làm công ăn lương trong từng thành phần kinh tế nói chung, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói riêng thì sẽ không có sự phát triển của thị trường lao động một cách đầy đủ theo quy luật tất yếu của nó, cũng như các thị trường khác dựa trên sự phân công lao động xã hội khách quan và ngược lại.

Khi lao động làm công ăn lương trong một nền kinh tế chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của nền kinh tế đó, nó cho thấy nền kinh tế đó, quốc gia đó có sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua đó tạo ra được nhiều việc làm để cho người lao động có cơ hội lựa chọn và nâng cao thu nhập, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cung cầu lao động và tính khách quan, tính phù hợp trong phân công lao động, từ đó có tác động tích cực đến sự phát triển của các thị trường khác. Nói một cách tổng quát thì tính năng động và sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách lao động tiền lương và chính sách phát triển kinh tế – xã hội khác trong một nền kinh tế thị trường dù là phát triển hay đang phát triển.

Về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở nước ta có thể nói như sau:

– Thời kỳ bao cấp: Lao động làm công ăn lương chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và vì vậy, nội hàm của khái niệm lao động làm công ăn lương cũng đã không được hiểu đầy đủ như hiện nay vì khi đó nước ta không đi theo kinh tế thị trường.

– Thời kỳ đổi mới: Nước ta bắt đầu chuyển đổi sang và phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Đây là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhờ đó các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, đưa nền kinh tế của nước ta phát triển sâu rộng hơn, đời sống của các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, lao động trong các thành phần kinh tế cũng ngày một đa dạng và phát triển hơn.

Theo tính toán của tôi dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân hàng năm lao động làm công ăn lương của nước ta tăng khoảng 660.000 người trong giai đoạn 2011-2015 và tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năm 2011, lao động làm công ăn lương của nước ta là khoảng 17.500.000 người, chiếm 34,6% lực lượng lao động có việc làm thì đến năm 2015, lao động làm công ăn lương ước tính đã tăng lên 20.800.000 người, chiếm 39,3% lực lượng lao động có việc làm. Riêng năm 2015 là năm có số lượng lao động làm công ăn lương tăng cao nhất so với các năm khác trong giai đoạn 2011-2015, do đó, đây cũng là năm mà nước ta đã giải quyết được nhiều việc làm nhất cho người lao động trong cùng giai đoạn vừa nêu. Điều cũng đáng chú ý nữa là lao động làm công ăn lương tuổi từ 60 trở lên năm 2015 chiếm 2,1% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước.

Về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước (Lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 không có sự gia tăng về số lượng theo hướng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là năm 2011 có khoảng 5.250.000 người thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn khoảng 5.185.000 người.

Về lao động trong khu vực doanh nghiệp (Lao động trong  khu vực doanh nghiệp là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 thì có sự gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là khu vực có lực lượng lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 70% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước trong năm 2015.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta đang trong xu hướng phát triển được thể hiện bằng sự gia tăng hàng năm về số lượng và tỷ trọng trong lực lượng lao động có việc làm như tôi đã đề cập, còn về chất lượng thì thông qua tiêu chí trình độ học vấn và thể lực cũng ngày một cao hơn,… Nói cách khác, sự phát triển này là một thực tế không thể đảo ngược được trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

PV: Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động của nước ta. Trong đó, có chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, xin ông cho biết quan điểm của ông về chủ trương này?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động. Trong đó, Bộ này đưa ra hai phương án tuổi nghỉ hưu: phương án 1 là giữ như hiện hành (nam 60 và nữ 55 tuổi) và phương án 2 là tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực (01/01/2018), tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi.

Đề xuất này đã và đang có không ít góc nhìn đa chiều từ cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các chuyên gia nói riêng và ngay cả những người lao động làm công ăn lương như công nhân, công chức, viên chức nói chung. Phân tích lý do cho việc đồng tình hay không đồng tình về chủ trương này khi họ đưa ra thì đều có cơ sở nhất định. Có thể nói, chính vì lẽ đó mà 2 phương án về tuổi nghỉ hưu mới được đưa ra để xem xét.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta đợt này không phải là lần đầu tiên mà trước đây chúng ta cũng đã đề xuất rồi nhưng Quốc hội không thông qua. Hơn nữa, tại Khoản 3 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật Lao động hiện hành cũng cho phép người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.

Quan điểm của tôi là nên giữ tuổi nghỉ hưu như hiện hành (phương án 1), còn tăng tuổi nghỉ hưu như đã nêu (phương án 2) là chưa phù hợp xét ở một số lĩnh vực kinh tế – xã hội và loại hình việc làm của người lao động làm công ăn lương, đặc biệt là xét theo trục phát triển của lao động làm công ăn lương trong điều kiện của nước ta từ nay đến tối thiểu là năm 2022. Vì vậy, ở đây tôi chỉ đề cập đến tính chưa phù hợp của chủ trương này khi soi xét vào trục phát triển chung của lao động làm công ăn lương ở nước ta được thể hiện ở 3 nhóm lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lao động làm công ăn lương của nước ta dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn còn chậm, ước tính chiếm gần 40% lực lượng lao động có việc làm hiện nay. Trong lực lượng lao động có việc làm thì phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (ước tính chiếm gần 80% lao động có việc làm) và trong lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có việc làm thì cũng có không ít lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học làm việc không đúng với chuyên môn mà họ đã được đào tạo do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ngoài ra, ước tính cũng còn hàng trăm nghìn người lao động trẻ có trình độ đại học và sau đại học đang thất nghiệp.

Thứ hai, tình trạng người sử dụng lao động nói chung hay doanh nghiệp nói riêng lách luật, giao kết sai hợp đồng lao động còn diễn ra khá phổ biến không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động làm công ăn lương. Chẳng hạn như người lao động làm việc không có hợp đồng lao động, làm việc theo hợp đồng miệng trái với quy định, hoặc việc ký hợp đồng lao động xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp hay việc ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, hoặc là thang bảng lương được xây dựng thành nhiều bậc, tách tiền lương thành nhiều khoản để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…. Những điều này ít nhiều làm cho hành lang pháp lý về lao động có tính hiệu lực và hiệu quả không cao, gây trở ngại cho trục phát triển của lao động làm công ăn lương và có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống an sinh xã hội.

Thứ ba, ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch hay Xingapo thì tuổi nghỉ hưu đều được quy định cao hơn phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nước ta nhưng lao động làm công ăn lương ở các nước này đều chiếm dao động từ khoảng 80 – 90% lực lượng lao động. Tuổi nghỉ hưu ở các nước phát triển cao hơn nước ta là nhằm tận dụng những mặt tích cực trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước nhưng có điểm chung là góp phần bù đắp thiếu hụt nhân lực và hạn chế nhập khẩu lao động từ các nước khác,….Trong khi dự báo đến năm 2022, lao động làm công ăn lương của nước ta cũng sẽ chỉ chiếm khoảng trên 47% lực lượng lao động có việc làm.

Trên cơ sở của 3 nhóm lý do nêu trên có thể kết luận chung như sau: Tăng tuổi nghỉ hưu đặt trong điều kiện, bối cảnh của trục phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta như đã nói trên thì nó cho thấy việc thực hiện này là chưa phù hợp, thậm chí thực hiện nó có thể gây trở ngại nhất định cho việc tận dụng thời kỳ dân số vàng của nước ta nói chung và sự phát triển của thị trường lao động nói riêng.

PV: Theo ông, nếu kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước thì sẽ có tác động như thế nào đến công tác tinh giản biên chế của nước ta?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Tinh giản biên chế và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước là hai vấn đề phức tạp. Như tôi đã nói, đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta là chưa phù hợp, trong đó đã hàm ý cả việc chưa nên kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước (nam 62, nữ 60 tuổi), mà theo tôi, chúng ta nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tinh giản biên chế theo như Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2017 về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Vì lý do cụ thể đó mà tôi không đề cập đến tác động của việc này đến việc kia hoặc hai vấn đề đó có mối quan hệ như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng và xuyên suốt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sức khỏe, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt để phục vụ nhân dân nói chung và kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển nói riêng,…. Tuy nhiên, thời gian qua, dự luận đã đề cập đến một số hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự ở bộ máy nhà nước. Đó là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước “sáng cắp ô đi tối cắp về” dẫn đến hiện tượng người làm không hết việc, thậm chí phải làm ngoài giờ trong khi không ít người làm thì ít, chơi thì nhiều, đến tháng lĩnh lương,… Dù chưa có số liệu chính thức về công chức không làm được việc, nhưng nếu theo ước tính của các chuyên gia thì có tới 30% công chức không làm được việc, tương đương 700.000 người, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Nếu chúng ta đẩy mạnh tinh giản biên chế hiệu quả và kiên quyết hơn nữa việc đưa ra khỏi nền công vụ những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc; đồng thời lấy và giữ được những cán bộ đáp ứng được và tốt yêu cầu công việc thì việc kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chưa cần thiết để đảm bảo cho bộ máy nhà nước không phình lên mà vẫn đảm bảo được tiêu chí ngày càng tạo nhiều cơ hội hơn cho lao động trẻ, tri thức trẻ lựa chọn việc làm và được cống hiến, cũng như bảo đảm được mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Hơn nữa, cán bộ, công chức, viên chức làm được việc sẽ không gặp cản trở nào trong công việc từ chính những người “sáng cắp ô đi tối cắp về”.

Mặt khác, cũng cần phải nói thêm rằng việc kéo dài thời gian công tác, kéo dài tuổi nghỉ hưu trong các cơ quan nhà nước cũng đang được thực hiện rồi. Chẳng hạn như Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ cũng cho phép việc việc kéo dài thời gian công tác khi đủ tuổi nghỉ hưu dựa trên một số tiêu chí nhất định, hoặc Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức ở một số chức danh lãnh đạo nhất định.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!

(Theo Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội)

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

(NVT-) Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương chiếm dao động từ 80 đến 90% lực lượng lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%.

Phát triển lao động tiền lương: một trong những nhân tố cơ bản để Việt Nam phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Báo đại đoàn kết online: Đăng ký dự thi Đại học, Cao đẳng 2014: Sóng gió cho một lựa chọn

Ngày 17-4 là hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ tại các trường THPT và thí sinh tự do nộp theo hệ thống các sở GD&ĐT, nhưng hạn nộp hồ sơ đăng kí dự thi trực tiếp tại trường ĐH đến hết ngày 24-4. Năm nay có khá nhiều thông tin mới liên quan tới kì thi đồi hỏi thí sinh cần tỉnh táo để khỏi lạc đường. 

Tuyển sinh ĐH, CĐ 2014 nhiều thông tin mới

Ám ảnh thất nghiệp
Nhiều buổi tư vấn hướng nghiệp cung cấp thông tin về nghề nghiệp và việc làm cho học sinh chuẩn bị tốt nghiệp THPT đã diễn ra ở mọi miền, mong giúp các em tránh những lựa chọn sai gây lãng phí thời gian và công sức khi chọn ngành học và trường học. Tuy nhiên con số 72.000 cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp tạo áp lực lớn vì không phải số người thất nghiệp này chưa từng được tư vấn hướng nghiệp trước đó.
Cho rằng hiện tượng thất nghiệp lớn và quá lãng phí này là “lỗi do đào tạo” không sai nhưng căn bản, lỗi do hướng nghiệp, khi nhu cầu thị trường lao động hiện nay không Bộ ngành nào chịu trách nhiệm thống kê, quy hoạch các bậc đào tạo, dự báo cụ thể nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn. Quy hoạch nhân lực quốc gia cho thấy tới năm 2015 Việt Nam cần khoảng 3,5 triệu lao động trình độ đại học trở lên, nhưng thực tế cuối năm 2013 đã có hơn 3,7 triệu lao động có trình độ này, không thất nghiệp mới lạ.
Theo TS.Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, một khi quy chế thi ĐH, CĐ ban hành trước quy chế thi tốt nghiệp THPT, học sinh phải làm hồ sơ dự thi ĐH xong rồi mới làm thủ tục thi tốt nghiệp thì học sinh lớp 12 chưa kịp tốt nghiệp đã chuẩn bị sẵn tâm lý lao vào các kỳ thi ĐH, CĐ. Đây là một lý do để hầu hết bị “lùa vào ĐH”.
TS Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia cho rằng cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương ngày càng nhiều. “Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương dao động từ 85 đến 90% dân số trong độ tuổi lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%”.
Biết mình biết đời
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực TP.HCM, hiện nay “hầu hết các em học sinh, khi chọn ngành học cho mình đều hết sức cảm tính.
Để tránh sự định hướng sai trong việc chọn nghề, theo các chuyên gia hướng nghiệp, học sinh phải xác định được sở thích và thế mạnh của mình, hãy tự đặt và trả lời hai câu hỏi là công việc nào khiến bạn thích làm nhất trong cuộc sống? Bạn thường làm những công việc nào tốt hơn người khác? Chọn ra đáp án chung cho cả hai câu hỏi là đã xác định được mình thích và làm tốt được việc gì.
Song để không lúng túng và có sự đầu tư tốt cho nghề nghiệp trong tương lai, còn cần tìm hiểu để có những hiểu biết nhất định về thị trường lao động, về nhu cầu, điều kiện việc làm, ngành nghề đào tạo, tuyển dụng….
Theo nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia công bố tại hội thảo đầu tháng 4.2014, sự gia tăng lực lượng lao động nước ta nhanh hơn tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm khiến áp lực tạo việc làm mới khá cao. Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm giai đoạn 2002-2012 là 1,05%, trong khi tốc độ tăng lực lượng lao động 2,64% – cao hơn 2 lần.
Tuy vậy vẫn thiếu lao động chất lượng cao ở mọi bậc đào tạo, từ trung cấp tới cao đẳng.
Không dễ mắc lừa
Kỳ tuyển sinh ĐH năm nay Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia HN) công bố mức thưởng 30 triệu đồng/ thí sinh thi vào trường đạt điểm tuyệt đối 30/30. Nếu đạt 29,5/30 điểm được thưởng 10 triệu đồng, 29/30 điểm được thưởng 5 triệu đồng. Đây là chính sách ưu đãi của nhà trường để thu hút nhân tài và nâng cao thương hiệu trường. Các trường ĐH Giáo dục, ĐH Công nghệ, chương trình chất lượng cao của ĐH Quốc gia HN cũng có nhiều ưu tiên tuyển sinh và thưởng nóng cho thí sinh điểm thi cao.
Ngoài những học bổng kiểu truyền thống dành cho những thủ khoa, á khoa, học sinh giỏi… năm nay, nhiều hình thức học bổng bị biến tướng thành các chiêu đánh bóng tên tuổi, quảng bá và thu hút thí sinh, cần tỉnh táo cân nhắc, nhất là học bổng dành cho thí sinh… nhập học sớm nhất.
Sở GD&ĐT Hải Phòng cũng vừa cảnh báo tình trạng thu nhận hồ sơ thi ĐH, CĐ “chui” khi thời gian qua, một số trường ĐH, CĐ đã đến các đơn vị đăng ký dự thi như trường THPT, Trung tâm GDTX ở thành phố để “tư vấn, hướng nghiệp” cho học sinh lớp 12 rồi cung cấp hồ sơ miễn phí cho thí sinh và đề nghị lãnh đạo và cán bộ tuyển sinh của các đơn vị thu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh và bàn giao trực tiếp cho các tổ chức cá nhân này không thông qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Việc làm trên là trái với quy định của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hải Phòng không chịu trách nhiệm với các hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh không nộp qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Cân nhắc chọn trường, ngành xét tuyển, ngành thi 
Kỳ tuyển sinh 2014 có nhiều thay đổi. Ngoài đợt thi 3chung thí sinh có thêm cơ hội thử sức ở hơn 60 trường tuyển sinh riêng, dù thông tin ban đầu cho thấy thí sinh chưa mặn mà với các trường thi riêng này.
Các trường ĐH vùng như ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đồng Tháp, ĐH Vinh… đăng ký tuyển sinh theo phương án “3 chung”, nhưng có một số ngành tuyển sinh riêng. “Những trường khác đã đăng ký tuyển sinh riêng với Bộ hoặc có trường tới 75% chỉ tiêu tuyển sinh “3 chung”, còn lại là xét tuyển dựa trên kết quả học tập THPT hay xét kết quả thi tốt nghiệp”, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT lưu ý.
“Các em không nên vội vàng nộp hồ sơ đăng ký dự thi bởi ngoài việc nộp trực tiếp tại các trường THPT theo tuyến các Sở GD&ĐT, vẫn còn thời gian để nộp tại các trường ĐH, CĐ có tổ chức thi tuyển đến hết ngày 24-4”, ông Trần Văn Nghĩa – Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) nói.
Hôm nay 15-4 là hạn cuối đăng ký sơ tuyển vào khối trường Quân đội. Đối với hệ dân sự của các trường quân đội thì thí sinh đăng ký dự thi (ĐKDT) giống như các trường ngoài quân đội tham gia kì thi “3 chung” của Bộ GD&ĐT. Thí sinh không phải tham gia sơ tuyển khi đăng ký theo học các ngành hệ dân sự.

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

(NVT)- Quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Ảnh toàn cảnh Hội thảo (Nguồn MPI Portal)

Ngày 1 tháng 4 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia (NCSEIF) và Viện Nghiên cứu KT-XH Ireland (ESRI) đồng tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”.

Áp lực tạo việc làm mới ngày càng cao

Lao động Việt Nam sẽ càng ngày càng thiếu việc làm

Chất lượng lao động chưa cao

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Áp lực việc làm ngày càng nặng

Giải pháp nào để phát triển thị trường lao động Việt Nam?

Tìm giải pháp hiệu quả để phát triển thị trường lao động Việt Nam

Sức ép cung – cầu trong thị trường lao động

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Thị trường lao động cần tận dụng giai đoạn dân số vàng

 Tại hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012”  đã cung cấp một bức tranh tiếp cận từ vĩ mô đển vi mô (Từ góc độ nguồn cung lao động của cả nước đến góc độ nguồn cung lao động ở nông thôn/thành thị, nguồn cung lao động của nam và nữ) đã cho thấy:

Thứ nhất, quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Nguyên nhân của quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại đang lớn dần là do dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam đông và hàng năm số người trong nhóm dân số trẻ này gia nhập vào lực lượng lao động cũng nhiều, cũng như dân số quá tuổi lao động vẫn có nhu cầu việc làm hoặc vẫn tham gia các hoạt động kinh tế đang trong xu hướng gia tăng.

Nguyên nhân của tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng là do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và yếu tố vùng/miền khác nhau như mức sống gia đình giảm , vùng/địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thời gian học tập của dân số trong độ tuổi lao động giảm…

Thứ hai, Việt Nam đang là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ cao hơn so với phần lớn các nước trên thế giới. Tỷ lệ này đang trong xu hướng tăng, tăng ở cả nông thôn lẫn thành thị. Nói cách khác, ở nông thôn và thành thị đều có nguồn cung lao động nữ khá dồi dào.

 Nguyên nhân là do phụ nữ phụ ở nông thôn cũng như ở thành thị ngày càng có nhu cầu tham gia lao động. Mặt tính cực của xu hướng này thể hiện tính năng động của phụ nữ và cơ hội tham gia ít khác biệt giữa nam và nữ trong lực lượng lao động của Việt Nam nói chung …

Thứ ba, xét theo khu vực nông thôn/thành thị thì lực lượng lao động ở nông thôn đang trong xu hướng giảm, trong khi ở thành thị lại đang trong xu hướng tăng.

Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho diện tích khu vực nông thôn dần dần bị thu hẹp lại. Điều này đồng nghĩa với lực lượng lao động ở khu vực nông thôn đang giảm, lực lượng lao động ở khu vực thành thị đang tăng…

Kiến nghị Thủ tướng giải quyết tình trạng doanh nghiệp nợ lương

(TNO)- Ngày 20.2, UBND TP.HCM có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính đề xuất hướng xử lý liên quan đến tình trạng doanh nghiệp nợ lương người lao động.

 Kiến nghị Thủ tướng giải quyết tình trạng doanh nghiệp nợ lương
Công nhân chờ đòi nợ lương tại một doanh nghiệp có chủ bỏ trốn

Theo Phó chủ tịch UBND TP.HCM Hứa Ngọc Thuận, trong thời gian qua, do tình hình kinh tế suy giảm nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, người lao động bị mất việc làm, một số chủ doanh nghiệp bỏ trốn và nợ lương người lao động.

Trong năm 2013, trên địa bàn thành phố xảy ra 5 trường hợp doanh nghiệp có chủ bỏ trốn và còn nợ lương người lao động, cụ thể:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sae Hwa Vina, huyện Củ Chi (Hàn Quốc) nợ lương 650 lao động với số tiền 3 tỉ đồng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn may mặc Long Đại Phát, quận 12 (trong nước) nợ lương 48 lao động với số tiền 250 triệu đồng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Il Shin Womo, huyện Củ Chi (Hàn Quốc) nợ lương 114 lao động với số tiền 2,5 tỉ đồng; Chi nhánh Công ty Cổ phần Nông thủy sản xuất khẩu Tùng Bách, quận Thủ Đức (trong nước) nợ lương 34 lao động với số tiền 132 triệu đồng; Công ty Kyung Sung Vina, huyện Hóc Môn (Hàn Quốc) nợ lương 146 lao động với số tiền 730 triệu đồng.

Do những vướng mắc về quy định pháp luật hiện hành, từ năm 2010 đến nay, thành phố chỉ thu hồi được hơn 342 triệu đồng từ việc thanh lý tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sin B, quận 12. Các khoản tạm ứng còn lại đã kéo dài nhiều năm nhưng vẫn chưa có nguồn để thanh toán, hoàn trả.

Cũng theo ông Hứa Ngọc Thuận, UBND thành phố đã tạm ứng từ ngân sách thành phố số tiền 146triệu đồng để hỗ trợ thanh toán nợ lương cho công nhân của Công ty Kyung Sung Vina, huyện Hóc Môn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ 

Để giải quyết dứt điểm khoản tạm ứng ngân sách chi trả hộ tiền lương cho người lao động của các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn, UBND thành phố kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ – ngành quy định tiêu chí xác định “doanh nghiệp có chủ bỏ trốn” để làm cơ sở thực hiện việc tạm ứng ngân sách địa phương hỗ trợ khoản nợ lương cho người lao động; hướng dẫn quy trình xử lý nhanh tài sản của các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn không phụ thuộc vào quy trình xử lý theo Luật phá sản.

Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn việc hỗ trợ người lao động có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp bị nợ lương tại các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn.

Tin, ảnhĐình Phú

Nhiều người ‘bám’ ngân sách, khó cải cách lương

Lương tối thiểu tăng suốt 20 năm nay nhưng tiền lương chưa thể đóng vai trò đòn bẩy kinh tế bởi ngân sách đang phải “gánh” quá nhiều đối tượng – Phó Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợiđánh giá.

UB Tài chính – Ngân sách của Quốc hội sáng nay tổ chức tọa đàm về các vấn đề tài chính ngân sách những tháng đầu năm và định hướng giai đoạn tới.

Trả lương đúng đối tượngMột trong những nội dung được thảo luận tại phiên họp là nguồn lực dành cho cải cách tiền lương, nhất là trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay.

 
ngân sách, lương, cải cách, vị trí việc làm, cải cách lương
 
Phó Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ông Bùi Sỹ Lợi cho hay, tiền lương tối thiểu đã tăng suốt 20 năm nay. Hễ chỉ số giá tiêu dùng tăng lên là lương cũng được điều chỉnh. Tuy nhiên, chất lượng đời sống thực lại không hề tăng. Do đó, tiền lương chưa thể đóng vai trò đòn bẩy kinh tế. “Giống như người bệnh cần uống 10 thang thuốc mới khỏi bệnh, nhưng chỉ đủ tiền bốc 7 thang, như vậy không thể vực dậy được”, ông Lợi so sánh.

Một trong những lý do được ông Lợi chỉ ra, đó là ngân sách đang phải “gánh” quá nhiều đối tượng.

Ông Lợi đề xuất, để có cơ sở trả lương đúng cho đối tượng công chức, cần tách bạch các khoản chi cho chính sách xã hội ra khỏi chi cho tiền lương. Sắp xếp lại bộ máy, xác định lại những người đúng là công chức để trả lương cho đúng đối tượng.  Và điều quan trọng là trả lương phải theo vị trí việc làm để khắc phục tình trạng bất hợp lý như lâu nay. Bởi theo ông Lợi, nhìn ngay trong đội ngũ thường trực của các ủy ban QH đã thấy một số bất cập. Chẳng hạn, có những ĐBQH đảm đương công việc phó chủ nhiệm các ủy ban nhiều năm nhưng tiền lương còn thua cả những ủy viên thường trực mới trúng cử. Đơn giản bởi khi trúng cử QH, các vị này vốn đang nắm giữ trọng trách cao ở địa phương nên khi về QH mọi chế độ lương bổng vẫn giữ nguyên như cũ.

Ông Bakhodir Burkhanov (Phó GĐ quốc gia Chương trình Phát triển LHQtại VN) bình luận, trong cơ cấu đối tượng trả lương, các thành phần chính sách đang chiếm tỷ trọng lớn bởi đây cũng là nét đặc thù của chế độ xã hội ở VN. Do đó, muốn cải cách lương phải đi song song với cải cách hệ thống bảo trợ.

Điều chỉnh giảm thuế Ngoài cải cách lương, các  đại biểu cũng phác thảo nhiều nét thách thức đối với kinh tế vĩ mô và chính sách tài chính năm nay.

TS Sanjay Kalra, đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam phân tích, bức tranh tổng thể về thu chi ngân sách năm 2013 khá tương đồng với năm 2012, với khoản thâm hụt ngân sách ước khoảng 4% GDP, dưới mức trần đã được QH thông qua (4,8%).

Rủi ro khủng hoảng nợ công là thấp, song việc đẩy mạnh tiến trình cải cách kinh tế chắc chắn sẽ cần có những khoản chi phí không nhỏ. Chẳng hạn chi phí để mua lại các ngân hàng yếu kém, chi trả cho người lao động mất việc, chi trả các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh nay không có khả năng thanh toán… Chi phí này chưa được dự phòng trong cân đối ngân sách.

Còn theo thống kê của ông Nguyễn Minh Tân, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính – Ngân sách (Văn phòng QH), trong 4 tháng đầu năm nay, tăng trưởng GDP cao hơn cùng kỳ năm 2012; trong khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thấp hơn. Gần 60% doanh nghiệp ngừng hoạt động năm 2012 đã quay trở lại hoạt động.

Tuy nhiên, số thu ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm chỉ bằng 29,9% dự toán, với số thu nội địa và số thu hải quan đều giảm; báo hiệu một năm khó khăn trong thực hiện kế hoạch thu. Trước khả năng hụt thu ngân sách nhà nước, cơ quan chức năng cần quán triệt yêu cầu triệt để tiết kiệm, không ban hành chế độ chính sách mới làm tăng chi; hạn chế việc cho chuyển nguồn vốn đầu tư và hạn chế tối đa chuyển nguồn các nhiệm vụ chi thường xuyên khác…

Việc hoàn thiện chính sách, sớm thực thi giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống mức chung 23%; điều chỉnh thuế giá trị gia tăng có thể làm giảm nguồn thu trước mắt, nhưng sẽ giúp gia tăng nguồn thu một cách bền vững trong trung hạn.

(Theo Vietnamnet.vn)

‘Lương thứ trưởng hơn chục triệu, chi xe công gấp ba’

Lương một thứ trưởng hơn chục triệu đồng/tháng nhưng chi phí cho chiếc xe công mà ông này đi gấp 3 lần: trả lương tài xế, phí bảo trì… – ĐBQH Trần Du Lịch cho biết.

Ngày 16/4, đoàn ĐBQH TP.HCM tổ chức hội thảo góp ý kiến của các cơ quan ban ngành về dự án luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi).

Hầu hết các đại biểu đều cho rằng, luật hiện hành có quá nhiều bất cập, chưa đi vào cuộc sống. Nói như ĐBQH Võ Thị Dung, việc sửa luật lần này cần tăng cơ chế, biện pháp thực hành tiết kiệm, chế tài xử lý các hành vi gây lãng phí.

Có khi nói dối để mua xe công

Thẳng thắn nhìn nhận hiện nay còn quá nhiều vấn đề gây thất thoát, lãng phí, nhất là trong chi tiêu công, ĐBQH Trần Du Lịch cho rằng, luật hiện hành không có nhiều ý nghĩa vì mới chỉ mang tính kêu gọi chứ chưa có chế tài xử lý, không có biện pháp gì để buộc người ta phải tiết kiệm.

Cụ thể, trong vấn đề sử dụng xe công, ông Lịch cho rằng, cán bộ sử dụng xe nhà nước vào việc riêng rất nhiều. “Thứ 7, chủ nhật, từ đám cưới đến đám ma, về quê… cán bộ đều dùng xe nhà nước hết. Ai chống được cái này? Giờ phải làm từng cái cụ thể đi, tiết kiệm từng cái một. Tôi nghĩ, luật phải quy định cụ thể điều này, không phải chung chung nữa”, ông Lịch nói.

Ông đưa ra ví dụ, lương của một ông thứ trưởng hơn chục triệu đồng/tháng nhưng chi phí cho chiếc xe công mà ông này đi gấp 3 lần. Đó là những chi phí trả lương tài xế, phí bảo trì, bảo hiểm…

Trong khi đó, một lần ông Lịch đi công tác ở Bắc Âu, thấy một nữ nghị sĩ rất nổi tiếng đạp xe đạp đi họp. “Ở các nước này, người ta đưa tiền lương để họ tự chi hết. Ở ta, chi phí cho xe công trừ vào tiền lương được không?”, ông đặt vấn đề.

“Tất cả những cái này đều giải quyết được nếu hy sinh lợi ích cá nhân. Như Văn phòng QH cũng có vị đề nghị phát 7,5 triệu đồng mỗi tháng thì không lấy xe, tự đi đến nơi làm việc bằng phương tiện của mình. Rõ ràng, ngân sách tiết kiệm được”, ông Lịch nói.

Đồng quan điểm với ĐB Lịch, Giám đốc Sở Tài chính TP.HCM Đào Thị Hương Lan cho biết, có khi phải nói dối để mua xe công, đó là một việc gây lãng phí vì luật quy định định mức đã lạc hậu.

lương, thứ trưởng, lãng phí, thất thoát, chi tiêu công, ngân sách Giám đốc Sở Tài chính TP.HCM Đào Thị Hương Lan: Có khi phải nói dối để mua xe công

“Gần đây, có chuyện mua một cái xe công tác với định mức qui định là 720 triệu đồng. Nhưng thực tế, không thể mua được cái xe nào có giá 720 triệu, xe 4 chỗ đời thấp nhất cũng không có xe nào có giá rẻ thế. Định mức như thế buộc người ta phải nói dối để mua được xe”, bà Lan nói.

Theo bà, quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ là căn cứ để thực hiện chống lãng phí. Nhưng hiện nay, định mức của mình rất lạc hậu, có những cái chậm sửa đổi. “Không phải chỉ chuyện cái xe mà nhiều vấn đề buộc người ta phải nói dối. Ví dụ, hội nghị có 50 người, người ta phải kê lên là 80 người, có như thế mới đủ định mức kinh phí. Phải sửa đổi, bổ sung kịp thời chứ không tự mình kéo nhau nói dóc với nhau rồi cũng quyết toán được. Bất hợp lý quá”, bà Lan đề nghị.

Do đó, vị Giám đốc Sở Tài chính kiến nghị, cần sửa đổi luật theo hướng cụ thể hơn, thực tế và thực chất hơn.

Lên sếp, sửa phòng làm việc theo phong thủy

Các đại biểu cho rằng, để xảy ra lãng phí do lỗi của người đứng đầu. Do đó, lần sửa đổi này, luật cần có chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu, thậm chí xử lý hình sự.

Ông Trần Sỹ Quang – phòng Pháp chế Công an TP. HCM đề nghị, thêm quy định “công khai kết quả xử lý” người đứng đầu do để xảy ra lãng phí vào khoản 2 điều 10.

lương, thứ trưởng, lãng phí, thất thoát, chi tiêu công, ngân sách Ông Trần Sỹ Quang – phòng Pháp chế Công an TP.HCM tại hội thảo

“Vì trong thực tế, nhiều trường hợp một số cơ quan phát hiện lãng phí trong quản lý tài sản nhưng người đứng đầu chỉ bị xử lý nội bộ một cách nhẹ nhàng để bảo vệ thành tích của đơn vị. Thậm chí, có những trường hợp có liên quan đến trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nên chỉ xử lý qua loa, đại khái không đủ sức răn đe, không thu hồi được tài sản bị thất thoát”, ông Quang khẳng định.

Tại khoản 1 điều 21, ông cũng đề nghị bổ sung trường hợp “sửa chữa trụ sở, phòng làm việc”. “Vì trong thực tế đã xảy ra, khi một giám đốc được đề bạt lại có chuyện sửa chữa phòng làm việc, xây lại cổng cơ quan theo phong thủy tuổi của ông ta. Điều này gây ra rất nhiều lãng phí tiền bạc của Nhà nước”, ông nói.

Một số đại biểu khác thì kiến nghị đưa qui định trách nhiệm của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức để xảy ra tình trạng lãng phí vào một chương riêng để có chế tài xử lý đủ mạnh. 

(Theo Vietnamnet.vn)

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

(NVT)- Tại cuộc họp lần thứ nhất của ban chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức ngày 25/1/2013, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cho rằng “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Cũng trong một cuộc họp báo mới đây, Bộ trưởng Vũ Đức Đam đã khẳng định “ngay trong văn phòng chính phủ cũng có chuyên viên làm cả ngày nghỉ mà không hết việc trong khi có người lại rảnh rỗi”. Trên các phương tiện thông tin những ngày qua cũng đã đưa ra những con số đáng báo động về tỷ lệ công chức vô dụng, về tỷ lệ thu nhập ngoài lương của cán bộ, công chức có được từ phong bì họp,… Rõ ràng, đây là sự cảnh báo đối với tiến trình thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đến năm 2020 mà Chính phủ đã đề ra.

Báo ĐT Giáo dục Việt Nam : 3 nguyên nhân khiến nhiều cán bộ, công chức nhà nước ‘vô dụng’

Vậy, nguyên nhân gốc rễ cán bộ, công chức vô dụng là do đâu? Chúng ta cần câu trả lời thích đáng cho thực trạng này. Qua tìm hiểu, bài viết này xin góp phần chỉ ra những căn nguyên dẫn đến hiện tượng cán bộ, công chức vô dụng như sau:

Thứ nhất là do chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học ở nước ta còn thấp, cũng như công tác tuyển dụng cán bộ, công chức ít nhiều còn chưa được khách quan. Và cả 2 vấn đề này đều tạo ra những tiêu cực nhất định.

Ảnh minh họa (Nguồn: Vietnamnet.vn)

Một mặt là do thực trạng thương mại hóa trong quan hệ thầy, cô với sinh viên ở một số trường đại học không phải là không còn tồn tại, mà nó còn có xu hướng gia tăng. Đây chính là mối quan hệ mua bán không lành mạnh làm suy giảm chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, làm suy thoái đạo đức nghề trồng người và là mầm mống cho việc hình thành một số cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ “giấy”,… Trong các bậc giáo dục và đào tạo này thì đầu vào còn qua thi tuyển khó, nhưng đầu ra lại dễ (có thể nói vào được, về cơ bản sẽ ra được. Điều này ngược hẳn với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến vì đầu vào đại học và sau đại họckhông phải qua thi tuyển, nhưng đầu ra lại khó bởi họ chú trọng nhiều đến chất lượng vốn kiến thức cho sinh viên khi ra trường làm việc để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn),…

Tình trạng thuê viết tiểu luận, khóa luận, đồ án tốt nghiệp, luận văn cao học hay “đạo văn” các nghiên cứu có trước của một số sinh viên vẫn đang diễn ra (trong một số cửa hàng photocopy gần một số trường đại học ở Hà Nội diễn ra tình trạng bán khóa luận, luận văn cao học khá phổ biến với giá rẻ hoặc có thể tìm kiếm bằng các từ khóa ‘nhận viết tiểu luận, khóa luận, luận văn’ trên google thì cho thấy dịch vụ này đã xuất hiện từ Bắc đến Nam),…

Nội dung, chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học còn chưa đáp ứng được với nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thực tiễn phát triển, trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm của một bộ phận giảng viên còn hạn chế (tình trạng khi được tuyển dụng, các cơ quan, đơn vị phải đào tạo lại cán bộ mà hiệu quả công việc vẫn chẳng cải thiện là bao và tình trạng trong lớp học, giảng viên giảng ít đọc nhiều cho sinh viên chép là 1 minh chứng cho điều này). Đây cũng chính là một trong những căn nguyên cơ bản làm cho sinh viên khi ra trường không đáp ứng được với các bài thi khi cơ quan nhà nước tuyển dụng và nếu được tuyển dụng cũng không được khách quan và do đó khó có thể thực thi hiệu quả công việc được giao.

Chấn chỉnh khâu tuyển dụng cán bộ

Cơ quan Nhà nước tuyển dụng, sử dụng lao động theo tiêu chuẩn nào thì   Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết rồi: Thứ nhất “hậu duệ” (con ông   cháu cha), thứ hai “quan hệ”, thứ ba “tiền tệ”, cuối bảng mới là “trí tuệ”.   Theo công thức này, chắc chắn không tuyển được người giỏi, cũng không kích thích được sinh viên học cho giỏi. Vì thế, vấn đề ở đây là phải làm sao chấn   chỉnh được chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ (Nguồn: Báo nld.com.vn  ngày 13/4/2013 trong bài: Thất nghiệp nhiều quá: “Cái chết” được báo trước!

Mặt khác là thực trạng tiêu cực trong công tác tuyển dụng: tình trạng thiên vị các mối quan hệ thân quen cũng có xu hướng gia tăng tạo ra hoạt động thi tuyển công chức bất cập. Điều này đang tạo ra tâm lí nghi ngờ cho các cựu sinh viên có năng lực mới ra trường khi đi tìm việc trong cơ quan nhà nước vì cho rằng một số cơ quan nhà nước thông báo tuyển dụng chỉ là hình thức, có nộp hồ sơ và tham gia thi tuyển thì phần lớn vẫn bị trượt, do kết quả trúng tuyển có thể đã được “bỏ túi” trước.

Với thực trạng về giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học cũng như công tác tuyển dụng như nêu ở trên thì hoàn toàn có thể tạo ra hiệu ứng cán bộ, công chức cấp trên dung túng cán bộ, công chức cấp dưới và cán bộ, công chức cấp dưới lè phè không chú tâm trong công việc. Vì cả 2 loại cấp bậc cán bộ, công chức này đã mắc vào mối liên hệ phụ thuộc thân quen hoặc thông qua mua bán thì hiển nhiên sẽ tạo ra những cán bộ, công chức vô dụng hoặc làm việc kém hiệu quả.

 Thứ hai, một bộ phận cán bộ,công chức có năng lực và tâm huyết không được trọng dụng thì cũng sẽ là vô dụng, trong khi số cán bộ, công chức yếu kém năng lực không bị sa thải hoặc bố trí lại thì cũng đã và đang là vô dụng. Đây vừa là sự lãng phí sức lao động quý giá, vừa làm phình to nhân sự trong bộ máy nhà nước và làm thất thoát quỹ tiền lương của nhà nước bất hợp lý.

Không ái khác, cán bộ, công chức là chủ thể làm trong sạch, vững mạnh và điều khiển sự phát triển của bộ máy nhà nước nếu được tuyển dụng và sử dụng hợp lý. Vì trong mỗi đơn vị, cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả hay không, trong sạch, vững mạnh hay không, phục vụ tân tụy nhân dân hay không chính là mô hình, tác phong, chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức của đơn vị, cơ quan đó nếu như người lãnh đạo thực hiện công tác quản lí và điều hành các hoạt động của đơn vị mình một cách khoa học, biết dựa vào nguồn nhân lực và năng lực của cấp dưới trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định.

Tuy nhiên, quan niệm này không phải người lãnh đạo nào cũng có thể vận dụng được vì nhiều lí do khách quan, chủ quan khác nhau và cái tâm của người lãnh đạo đối với Đảng và Nhà nước ta. Ở các đơn vị, cơ quan mà người lãnh đạo không có khả năng hoặc không vận dụng quan niệm như đã nêu trên thì sức lao động quý giá của cán bộ, công chức có năng lực dễ bị triệt tiêu dẫn đến tình trạng người kém năng lực được quy hoạch để quản lí người có năng lực, và tiếp đến là người có năng lực đành phải chọn cách ra đi. Trong trường hợp này, cơ quan, đơn vị đó đã tạo ra những những cán bộ, công chức kém năng lực chiếm số đông để tạo lực cản cho người có năng lực muốn hiến kế chiếm số ít và từ đó dẫn đến việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan không được hiệu quả toàn diện. Điều này trái ngược hẳn với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Bởi lãnh đạo mỗi doanh nghiệp trong khu vực này luôn coi thời gian, sức lao động của người lao động trong doanh nghiệp mình là lợi nhuận và là sự phát triển của doanh nghiệp vì nếu không coi trọng 2 yếu tố đó, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại.

Thứ ba, lương thấp làm cho cán bộ, công chức thờ ơ với công việc: Thờ ơ với công việc cũng biểu hiện sự vô dụng- tác động xấu đến quan hệ giữa người dân với người công bộc.

– Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề về xã hội cho biết, hiện lương khối hành chính sự nghiệp chỉ bằng 70% khu vực doanh nghiệp. Phó vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, ông Lê Xuân Thành cũng thừa nhận, hiện lương ở khu vực Nhà nước, mới đảm bảo được 50% mức sống tối thiểu của công chức (Nguồn: Báo vnexpress.net ngày 12/4/2013 trong bài“Lương tối thiểu chưa bằng nửa mức sống”).

– Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện nay, có nhiều công chức đang giàu lên nhanh chóng, có ô tô xịn, biệt thự, đầy đủ tiện nghi cao cấp mà với mức lương của họ không thể nào có được. Đó chính là những khoản thu nhập ngoài lương, những đặc lợi (Nguồn: Báo tienphong.vn ngày 20/9/2010 trong bài “Nhận diện tham nhũng ngoài lương”) 

 Về bản chất, cán bộ, công chức là những người làm công ăn lương thì tối thiểu họ phải sống được bằng lương tối thiểu. Tuy nhiên, nếu lương tối thiểu không đủ trang trải cho mức sống tối thiểu thì buộc họ phải tự tìm các nguồn thu khác để tồn tại bằng mọi phương diện. Đây cũng là phản ứng tự nhiên của sự tồn tại.

Kể từ năm 1993 cho đến nay, nước ta đa có 12 lần tăng lương tối thiểu, với tốc độ tăng bình quân từ 16–20% hàng năm trong nhiều năm, song mức lương tối thiểu vẫn không đảm bảo cho mức sống tối thiểu của cán bộ, công chức. Bởi vì khi thông tin lương tăng thì giá cả một số mặt hàng thiết yếu lại tăng trước và tăng nhanh hơn cùng với các chi phí dịch vụ xã hội ngày càng đắt đỏ trong khi chất lượng dịch vụ lại không tương ứng.

Có thể nói, cả 03 nguyên nhân nêu trên đều có thể nhập vai là “cha đẻ” của những tiêu cực tạo ra số cán bộ, công chức vô dụng hiện nay và là nhân tố có thể góp phần tạo ra hiệu ứng “Người có năng lực thì không được trọng dụng nên đành phải bỏ cơ quan nhà nước để ra ngoài làm. Người không có năng lực thì cố bám trụ nhà nước vì không thể kiếm được việc làm ở khu vực ngoài nhà nước. Nghịch lý này mà lan rộng ra thì hệ quả là số cán bộ, công chức vô dụng sẽ không thể bị đầy lùi”.

(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả)

 

%d bloggers like this: