Báo động năng suất lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước

Không ít doanh nghiệp phải tự đào tạo hoặc đào tạo lại lao động theo hình thức vừa học, vừa làm. Đây cũng là một trong những nút thắt cơ bản trong quá trình phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Nhận định trên được nhóm nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia đưa ra tại Hội thảo Xu hướng phát triển của lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, ngày 14/9/2019.

Báo động năng suất lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước

Dự báo, số lao động làm việc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ đạt khoảng 12,8 triệu vào năm 2022

Năng suất lao động thấp

TS. Nguyễn Văn Thuật cho biết, so với các loại hình doanh nghiệp khác, năng suất lao động bình quân hàng năm/lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước đứng ở vị trí thấp nhất trong giai đoạn 2011 – 2014. Khoảng cách về năng suất lao động của loại hình doanh nghiệp này với các loại hình doanh nghiệp đang ngày càng nới rộng.

Chất lượng giáo dục và đào tạo cũng còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo thấp, hoặc đào tạo không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp ngoài nhà nước. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp phàn nàn về kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà doanh nghiệp cần rất lớn.

65% chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho rằng, những kỹ năng mà trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Tỷ lệ này ở doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước khoảng 35%.

“Đây là yếu tố rất đáng lo ngại, vì cản trở khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung, bởi loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước là lực lượng kinh tế có số lượng doanh nghiệp đông nhất”, ông Thuật nói.

Theo vị chuyên gia này, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng suất lao động của doanh nghiệp ngoài nhà nước còn thấp không chỉ do chất lượng lao động thấp, mà còn do môi trường kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường ít nhiều còn có sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

Trong đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước bị ảnh hưởng nhiều nhất, tất yếu dẫn đến là tiền lương, thu nhập bình quân hàng tháng của lao động cũng thấp nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác, đặc biệt so với doanh nghiệp nhà nước.

Số liệu năm 2014 cho thấy, thu nhập bình quân một tháng của lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ bằng khoảng 57% thu nhập tương ứng của lao động trong doanh nghiệp nhà nước.

Định vị xu hướng phát triển của lao động

Nhóm nghiên cứu nhận định, xu hướng phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước ngày càng phát triển nhanh, kéo theo xu hướng phát triển của lao động trong thời gian tới.

Dự báo, số lao động làm việc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ đạt khoảng 12,8 triệu vào năm 2022, 16 triệu năm 2026 và 19,4 triệu năm 2030. Tính bình quân hàng năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cầu lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng 733.000 lao động/năm.

Nhân tố đóng vai trò nền tảng tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển của lao động trong loại hình doanh nghiệp này là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018 và Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 3/6/2017.

Tuy nhiên, vấn đề lo ngại là tình trạng thiếu hụt nhân công lành nghề.

TS. Nguyễn Văn Thuật khuyến nghị, lãnh đạo doanh nghiệp ngoài nhà nước phải coi trọng việc sử dụng lao động theo hướng thời gian làm việc của lao động là lợi nhuận, là vàng bạc của doanh nghiệp và cũng là của người lao động. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động.

Nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam, PGS. TS. Cao Văn Sâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cho rằng, cần tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với giáo dục nghề nghiệp…

Hà Linh

Theo: tinnhanhchungkhoan.vn

Advertisements

Doanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút nhiều lao động nhất nhưng trả lương thấp nhất

Báo cáo định vị xu hướng phát triển của lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Việt Nam đến năm 2030 cho thấy đây là loại hình doanh nghiệp thu hút nhiều lao động nhất nhưng lại trả lương thấp nhất cho người lao động.

.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang đứng đầu về số lượng doanh nghiệp, thu hút lao động nhiều nhất nhưng lại trả lương thấp nhất

Kết quả báo cáo này đã được thông tin tại hội thảo khoa học quốc gia “Xu hướng phát triển của lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam” vừa diễn ra tại Hà Nội.

Cụ thể, tốc độ thu hút lao động từ khối Doanh nghiệp ngoài nhà nước được cho là gia tăng đáng kể. Điều này thể hiện qua con số, nếu năm 2010 có gần 6 triệu lao động thì năm 2016, số lao động làm việc trong khối Doanh nghiệp ngoài nhà nước đã tăng lên hơn 8,4 triệu lao động, chiếm  38,3% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước tương ứng mức tăng bình quân mỗi năm khoảng 350.000 người.

Điều này tương ứng tốc độ gia tăng của các Doanh nghiệp ngoài nhà nước. Báo cáo cho thấy, năm 2007, Doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ có khoảng hơn 140 nghìn doanh nghiệp, thì đến năm 2015 đã có hơn 427 nghìn doanh nghiệp, tăng 3 lần và chiếm 96,6% tổng số doanh nghiệp cả nước.

Xét về tiền lương, so với 2 loại hình doanh nghiệp khác là doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Nhà nước (Doanh nghiệp ngoài nhà nước) thì mức lương trả cho khối Doanh nghiệp ngoài nhà nước được xem là thấp nhất so với 2 loại hình doanh nghiệp trên.

Báo cáo đã chỉ ra, thu nhập bình quân một tháng của lao động trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ bằng khoảng 57% thu nhập tương ứng của lao động trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước ở năm 2014.

Đây cũng là lý do giải thích vì sao năng suất lao động bình quân hàng năm/lao động trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước đứng ở vị trí thấp nhất trong giai đoạn 2011-2014.

Theo ông Nguyễn Văn Thuật, Phó tổng biên tập phụ trách Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội, thành viên nhóm nghiên cứu thì thực trạng này là rất đáng lo ngại vì nó cản trở khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung trong khi, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước là lực lượng kinh tế có số lượng doanh nghiệp đông nhất.

Nguyên nhân dẫn tới năng suất lao động trong khối này thấp được chỉ ra do chất lượng lao động yếu, lương thấp dẫn tới họ không có động lực tăng năng suất, bên cạnh đó là môi trường kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường ít nhiều còn có sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

“Số liệu thống kê cho thấy, nước ta vẫn đang trong thời kỳ dân số “vàng”, nhưng thực tiễn lại cho thấy chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng bởi hiện có hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 79,1%), trong khi chỉ có 11,3 triệu người đã được đào tạo (chiếm 20,9%). Những con số này phản ảnh chung là lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động trong nền kinh tế lại thấp và do đó dẫn đến năng suất lao động thấp và lao động giá rẻ là lẽ đương nhiên”, ông Thuật nhấn mạnh.

Nhìn trên bình diện cơ cấu lao động cho thấy, năm 2015, số lao động làm việc trong công ty TNHH chiếm tỷ trọng cao nhất, hơn 53% và lao động trong công ty cổ phần đứng ở vị trí thứ hai, chiếm gần 41% tổng số lao động trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước. Điều này cho thấy, tại Việt Nam, 2 hình thức doanh nghiệp này được xem là phát triển mạnh nhất trong loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Mặc dù đây là khối doanh nghiệp có mức lương chi trả thấp nhưng xét về xu hướng thì đây sẽ là khối doanh nghiệp giải quyết việc làm cho người lao động thời gian tới.

Báo cáo này đã đưa ra dự báo, số lao động làm việc trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ đạt khoảng 12.845 nghìn người vào năm 2022, 16.020 nghìn người vào năm 2026 và 19.400 nghìn người vào năm 2030. Tính bình quân hàng năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cầu lao động trong Doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng bình quân 733.000 lao động/năm.

“Vấn đề việc làm có thể không còn là môi lo ngại lớn nhất vì mỗi năm chúng ta có 1 triệu lao động bước vào thị trường lao động, trong khi, mức tăng bình quân theo dự báo là hơn 700.000 lao động cho khối Doanh nghiệp ngoài nhà nước, đó là chưa kể số lao động làm việc ở 2 loại hình còn lại. Tuy nhiên, với sự ảnh hưởng hàng ngày hàng giờ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì vấn đề cần quan tâm nhất thời điểm hiện tại là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng là chìa khóa giúp nền sản xuất của Việt Nam phát triển”, ông Thuật nhấn mạnh.

Hải Hà

 

Nghịch lý lao động Việt: “Vàng” số lượng, chưa “vàng” chất lượng!

Thị trường lao động ở Việt Nam sẽ chứng kiến xu hướng ngày càng có nhiều việc làm cho lao động lựa chọn, do doanh nghiệp (DN) ngoài nhà nước tạo ra. Nhưng, sự đáp ứng với yêu cầu công việc của lao động phần lớn vẫn còn thấp, do lao động hạn chế về kỹ năng, tay nghề và thường phải trải qua một thời gian nhất định theo hình thức vừa học vừa làm, hoặc DN phải đào tạo lại trước khi cho làm việc chính thức.

Ts. Nguyễn Văn Thuật – Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH quốc gia, dẫn số liệu thống kê cho thấy, nước ta vẫn đang trong thời kỳ dân số “vàng”. Nhưng, thực tiễn lại cho thấy chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng. Hiện có hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 79,1%), trong khi chỉ có 11,3 triệu người đã được đào tạo (chiếm 20,9%).

Thừa thầy, thiếu thợ

Ông Thuật đánh giá, những con số này phản ảnh chung là lao động dồi dào, nhưng chất lượng lao động trong nền kinh tế lại thấp, dẫn đến năng suất lao động (NSLĐ) thấp và lao động giá rẻ là lẽ đương nhiên.
Xét về chất lượng lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng cho thấy, lao động làm việc hàng năm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang trong xu hướng giảm, nhưng vẫn còn rất chậm và chiếm tỷ lệ cũng rất cao.

Trong khi đó, lao động đã qua dạy nghề, có trình độ trung cấp chuyên nghiệp lại có dấu hiệu giảm, hoặc chững lại và lao động có trình độ đại học trở lên lại có xu hướng tăng nhanh, từ 6,9% năm 2013 đã lên 9% năm 2016. Điều này phản ánh sự bất hợp lý về cơ cấu chất lượng lao động và do đó vẫn tạo nên tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong nền kinh tế của nước ta.

PGs.Ts. Cao Văn Sâm – Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, phân tích trong tổng số 54,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có khoảng 11,3 triệu người đã được đào tạo, chiếm 20,9% tổng lực lượng lao động.

Hiện cả nước có hơn 43 triệu người (chiếm 79,1% lực lượng lao động) chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định.

“Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào, nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp”, ông Sâm đánh giá.

Hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật

Theo ông Sâm, lực lượng lao động ở nước ta vẫn trong tình trạng thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; yếu kém về tin học, ngoại ngữ; thiếu hiểu biết về pháp luật; đạo đức nghề nghiệp chưa cao; thiếu tinh thần và ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới,… NSLĐ còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Cụ thể, NSLĐ của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển trong khu vực, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Theo đánh giá của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố năm 2014, NSLĐ Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương và ở ASEAN: chỉ bằng 1/15 so với Singapore; 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan, chưa kể so sánh với NSLĐ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ, New Zealand… Năng lực đổi mới và sáng tạo KH&CN của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém.

Mất dần sức cạnh tranh

Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới. Tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều.

Dự báo trong những năm tới, Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song phương và đa phương sẽ được ký kết. Sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở nên gay gắt. Trong khi đó, nhân lực của nước ta đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta.

Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là do chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo thấp hoặc đào tạo không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của DN ngoài nhà nước.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các DN phàn nàn về những kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà DN cần còn rất lớn. Trong đó, gần 65% chủ DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cho rằng những kỹ năng mà trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của DN. Tỷ lệ này ở các DN trong nước là DNNN và DN tư nhân thấp hơn, khoảng 35%.

Thực tế này cho thấy, để nâng cao NSLĐ cần phải giảm sự khác biệt giữa kỹ năng được đào tạo và kỹ năng mà DN cần. Điều này đòi hỏi cơ chế kết nối DN với cơ sở đào tạo, đồng thời phải tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, những cơ sở đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của thị trường sẽ khó được chấp nhận.

Ông Sâm đánh giá, những hạn chế của nhân lực lao động Việt Nam nêu trên đang trở thành gánh nặng, những thách thức đối với giáo dục nghề nghiệp, bởi chức năng, nhiệm vụ của nó chính là đào tạo nhân lực lao động cho quốc gia. Cũng chính vì thế, đòi hỏi hệ thống này phải nỗ lực, có những giải pháp, hướng đi phù hợp cho giai đoạn tới để hội nhập sâu, rộng vào Cộng đồng ASEAN.

Ngoài ra, Ts. Trần Thị Minh Phương – Trường Đại học Lao động – Xã hội, nhận định trình độ của lao động trong DN có tác động tích cực đến NSLĐ trong DN. Như vậy, việc đào tạo ngoài DN hay trong DN đều đóng vai trò quan trọng đến tăng NSLĐ trong DN.

Thy Lê

Theo: http://thoibaokinhdoanh.vn

Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta

Lao động làm công ăn lương ở nước ta đang trong xu hướng phát triển, đặc biệt là phát triển trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Điều này đồng nghĩa với thị trường lao động ở nước ta cũng đang trong xu hướng phát triển. Bên cạnh xu hướng phát triển vừa nêu cần được quan tâm thì chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình ở nước ta cũng đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhân dịp số đặc biệt Mừng Xuân 2017, Mừng đất nước đổi mới, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Văn Thuật với chủ đề “Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta”.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

PV: Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Đề cập đến lao động làm công ăn lương và sự phát triển của nó là một vấn đề khá vĩ mô, khá rộng lớn trong kinh tế thị trường. Bởi sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản có tác động tích cực vào cấu trúc kinh tế – xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản của kinh tế thị trường nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi của cuộc trao đổi này, tôi xin trả lời khái quát như sau:

Ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung như Mỹ, Anh, Đức, Pháp,…,lao động làm công ăn lương chiếm dao động khoảng từ 80 – 90% lực lượng lao động. Có thể nói, tỷ lệ này là một chỉ báo quan trọng góp phần giúp cho việc nghiên cứu, phân tích để phản ánh và lý giải trình độ phát triển kinh tế – xã hội chung của mỗi quốc gia. Nói cách khác, sự phát triển của lao động làm công ăn lương là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường chính là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một sâu rộng hơn của mỗi nền kinh tế trong bối cảnh mỗi quốc gia đều phải chủ động tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa. Xét cho cùng, có thể thấy, nếu không có sự phát triển của lao động làm công ăn lương trong từng thành phần kinh tế nói chung, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói riêng thì sẽ không có sự phát triển của thị trường lao động một cách đầy đủ theo quy luật tất yếu của nó, cũng như các thị trường khác dựa trên sự phân công lao động xã hội khách quan và ngược lại.

Khi lao động làm công ăn lương trong một nền kinh tế chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của nền kinh tế đó, nó cho thấy nền kinh tế đó, quốc gia đó có sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua đó tạo ra được nhiều việc làm để cho người lao động có cơ hội lựa chọn và nâng cao thu nhập, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cung cầu lao động và tính khách quan, tính phù hợp trong phân công lao động, từ đó có tác động tích cực đến sự phát triển của các thị trường khác. Nói một cách tổng quát thì tính năng động và sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách lao động tiền lương và chính sách phát triển kinh tế – xã hội khác trong một nền kinh tế thị trường dù là phát triển hay đang phát triển.

Về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở nước ta có thể nói như sau:

– Thời kỳ bao cấp: Lao động làm công ăn lương chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và vì vậy, nội hàm của khái niệm lao động làm công ăn lương cũng đã không được hiểu đầy đủ như hiện nay vì khi đó nước ta không đi theo kinh tế thị trường.

– Thời kỳ đổi mới: Nước ta bắt đầu chuyển đổi sang và phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Đây là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhờ đó các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, đưa nền kinh tế của nước ta phát triển sâu rộng hơn, đời sống của các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, lao động trong các thành phần kinh tế cũng ngày một đa dạng và phát triển hơn.

Theo tính toán của tôi dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân hàng năm lao động làm công ăn lương của nước ta tăng khoảng 660.000 người trong giai đoạn 2011-2015 và tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năm 2011, lao động làm công ăn lương của nước ta là khoảng 17.500.000 người, chiếm 34,6% lực lượng lao động có việc làm thì đến năm 2015, lao động làm công ăn lương ước tính đã tăng lên 20.800.000 người, chiếm 39,3% lực lượng lao động có việc làm. Riêng năm 2015 là năm có số lượng lao động làm công ăn lương tăng cao nhất so với các năm khác trong giai đoạn 2011-2015, do đó, đây cũng là năm mà nước ta đã giải quyết được nhiều việc làm nhất cho người lao động trong cùng giai đoạn vừa nêu. Điều cũng đáng chú ý nữa là lao động làm công ăn lương tuổi từ 60 trở lên năm 2015 chiếm 2,1% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước.

Về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước (Lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 không có sự gia tăng về số lượng theo hướng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là năm 2011 có khoảng 5.250.000 người thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn khoảng 5.185.000 người.

Về lao động trong khu vực doanh nghiệp (Lao động trong  khu vực doanh nghiệp là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 thì có sự gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là khu vực có lực lượng lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 70% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước trong năm 2015.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta đang trong xu hướng phát triển được thể hiện bằng sự gia tăng hàng năm về số lượng và tỷ trọng trong lực lượng lao động có việc làm như tôi đã đề cập, còn về chất lượng thì thông qua tiêu chí trình độ học vấn và thể lực cũng ngày một cao hơn,… Nói cách khác, sự phát triển này là một thực tế không thể đảo ngược được trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

PV: Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động của nước ta. Trong đó, có chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, xin ông cho biết quan điểm của ông về chủ trương này?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động. Trong đó, Bộ này đưa ra hai phương án tuổi nghỉ hưu: phương án 1 là giữ như hiện hành (nam 60 và nữ 55 tuổi) và phương án 2 là tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực (01/01/2018), tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi.

Đề xuất này đã và đang có không ít góc nhìn đa chiều từ cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các chuyên gia nói riêng và ngay cả những người lao động làm công ăn lương như công nhân, công chức, viên chức nói chung. Phân tích lý do cho việc đồng tình hay không đồng tình về chủ trương này khi họ đưa ra thì đều có cơ sở nhất định. Có thể nói, chính vì lẽ đó mà 2 phương án về tuổi nghỉ hưu mới được đưa ra để xem xét.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta đợt này không phải là lần đầu tiên mà trước đây chúng ta cũng đã đề xuất rồi nhưng Quốc hội không thông qua. Hơn nữa, tại Khoản 3 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật Lao động hiện hành cũng cho phép người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.

Quan điểm của tôi là nên giữ tuổi nghỉ hưu như hiện hành (phương án 1), còn tăng tuổi nghỉ hưu như đã nêu (phương án 2) là chưa phù hợp xét ở một số lĩnh vực kinh tế – xã hội và loại hình việc làm của người lao động làm công ăn lương, đặc biệt là xét theo trục phát triển của lao động làm công ăn lương trong điều kiện của nước ta từ nay đến tối thiểu là năm 2022. Vì vậy, ở đây tôi chỉ đề cập đến tính chưa phù hợp của chủ trương này khi soi xét vào trục phát triển chung của lao động làm công ăn lương ở nước ta được thể hiện ở 3 nhóm lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lao động làm công ăn lương của nước ta dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn còn chậm, ước tính chiếm gần 40% lực lượng lao động có việc làm hiện nay. Trong lực lượng lao động có việc làm thì phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (ước tính chiếm gần 80% lao động có việc làm) và trong lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có việc làm thì cũng có không ít lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học làm việc không đúng với chuyên môn mà họ đã được đào tạo do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ngoài ra, ước tính cũng còn hàng trăm nghìn người lao động trẻ có trình độ đại học và sau đại học đang thất nghiệp.

Thứ hai, tình trạng người sử dụng lao động nói chung hay doanh nghiệp nói riêng lách luật, giao kết sai hợp đồng lao động còn diễn ra khá phổ biến không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động làm công ăn lương. Chẳng hạn như người lao động làm việc không có hợp đồng lao động, làm việc theo hợp đồng miệng trái với quy định, hoặc việc ký hợp đồng lao động xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp hay việc ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, hoặc là thang bảng lương được xây dựng thành nhiều bậc, tách tiền lương thành nhiều khoản để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…. Những điều này ít nhiều làm cho hành lang pháp lý về lao động có tính hiệu lực và hiệu quả không cao, gây trở ngại cho trục phát triển của lao động làm công ăn lương và có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống an sinh xã hội.

Thứ ba, ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch hay Xingapo thì tuổi nghỉ hưu đều được quy định cao hơn phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nước ta nhưng lao động làm công ăn lương ở các nước này đều chiếm dao động từ khoảng 80 – 90% lực lượng lao động. Tuổi nghỉ hưu ở các nước phát triển cao hơn nước ta là nhằm tận dụng những mặt tích cực trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước nhưng có điểm chung là góp phần bù đắp thiếu hụt nhân lực và hạn chế nhập khẩu lao động từ các nước khác,….Trong khi dự báo đến năm 2022, lao động làm công ăn lương của nước ta cũng sẽ chỉ chiếm khoảng trên 47% lực lượng lao động có việc làm.

Trên cơ sở của 3 nhóm lý do nêu trên có thể kết luận chung như sau: Tăng tuổi nghỉ hưu đặt trong điều kiện, bối cảnh của trục phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta như đã nói trên thì nó cho thấy việc thực hiện này là chưa phù hợp, thậm chí thực hiện nó có thể gây trở ngại nhất định cho việc tận dụng thời kỳ dân số vàng của nước ta nói chung và sự phát triển của thị trường lao động nói riêng.

PV: Theo ông, nếu kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước thì sẽ có tác động như thế nào đến công tác tinh giản biên chế của nước ta?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Tinh giản biên chế và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước là hai vấn đề phức tạp. Như tôi đã nói, đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta là chưa phù hợp, trong đó đã hàm ý cả việc chưa nên kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước (nam 62, nữ 60 tuổi), mà theo tôi, chúng ta nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tinh giản biên chế theo như Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2017 về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Vì lý do cụ thể đó mà tôi không đề cập đến tác động của việc này đến việc kia hoặc hai vấn đề đó có mối quan hệ như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng và xuyên suốt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sức khỏe, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt để phục vụ nhân dân nói chung và kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển nói riêng,…. Tuy nhiên, thời gian qua, dự luận đã đề cập đến một số hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự ở bộ máy nhà nước. Đó là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước “sáng cắp ô đi tối cắp về” dẫn đến hiện tượng người làm không hết việc, thậm chí phải làm ngoài giờ trong khi không ít người làm thì ít, chơi thì nhiều, đến tháng lĩnh lương,… Dù chưa có số liệu chính thức về công chức không làm được việc, nhưng nếu theo ước tính của các chuyên gia thì có tới 30% công chức không làm được việc, tương đương 700.000 người, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Nếu chúng ta đẩy mạnh tinh giản biên chế hiệu quả và kiên quyết hơn nữa việc đưa ra khỏi nền công vụ những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc; đồng thời lấy và giữ được những cán bộ đáp ứng được và tốt yêu cầu công việc thì việc kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chưa cần thiết để đảm bảo cho bộ máy nhà nước không phình lên mà vẫn đảm bảo được tiêu chí ngày càng tạo nhiều cơ hội hơn cho lao động trẻ, tri thức trẻ lựa chọn việc làm và được cống hiến, cũng như bảo đảm được mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Hơn nữa, cán bộ, công chức, viên chức làm được việc sẽ không gặp cản trở nào trong công việc từ chính những người “sáng cắp ô đi tối cắp về”.

Mặt khác, cũng cần phải nói thêm rằng việc kéo dài thời gian công tác, kéo dài tuổi nghỉ hưu trong các cơ quan nhà nước cũng đang được thực hiện rồi. Chẳng hạn như Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ cũng cho phép việc việc kéo dài thời gian công tác khi đủ tuổi nghỉ hưu dựa trên một số tiêu chí nhất định, hoặc Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức ở một số chức danh lãnh đạo nhất định.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!

(Theo Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội)

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Ông Nguyễn Toàn Phong, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội (Sở LĐTBXH Hà Nội):Mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thị trường

Theo thống kê của Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, trung bình mỗi phiên giao dịch có khoảng 2.000 người lao động đến tìm việc, trong đó có đến hơn 60% lao động tốt nghiệp CĐ, ĐH.

Điều này thể hiện sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Hiện các doanh nghiệp tập trung tuyển dụng lao động kỹ thuật phổ thông, lao động có kỹ năng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh; trong khi, như nói trên, số người tìm đến trung tâm giới thiệu việc làm vẫn chủ yếu là sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ…

Bên cạnh đó, kinh tế những năm qua khá khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm nhân lực hoặc giải thể. Trong khi đó, Hà Nội là nơi tập trung đông các trường CĐ, ĐH, tình trạng thất nghiệp của các cử nhân, thạc sĩ vì vậy dồn ứ từ nhiều năm, đến nay càng trở nên rõ nét. Rất nhiều cử nhân đành chấp nhận tìm việc trái ngành, thậm chí là làm lao động phổ thông. Cũng không ít trường hợp có bằng thạc sĩ vẫn phải cầm hồ sơ gõ cửa từng doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Lao động xã hội:Hệ quả của tâm lý sính bằng đại học

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường gia tăng do nhiều nguyên nhân. Trước tiên, về phía sinh viên, họ vẫn chịu áp lực từ xã hội, gia đình là phải có bằng cấp, nên kiểu gì cũng phải thi vào ĐH, CĐ, mà không quan tâm đến nhu cầu của nền kinh tế, nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động là cần những ngành nghề gì, cần ở đâu?…

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ hệ thống giáo dục đào tạo, dạy nghề hiện nay vẫn theo định hướng cung, dạy những gì chúng ta “có”, chứ không phải dạy cái xã hội cần. Vì vậy vấn đề quan trọng nhất là thị trường lao động cần gì, ngành nghề gì, kỹ năng gì, phẩm chất gì… thì chúng ta chưa đáp ứng được. Nhiều bạn trẻ được đào tạo ra, khi phỏng vấn xin việc doanh nghiệp thấy không đáp ứng được về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của người lao động trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa, công nghiệp hóa.

Nguyên nhân thứ ba là khi nền kinh tế phát triển và công nghệ ngày càng hiện đại, sẽ đòi hỏi nhân lực trình độ cao hơn nhưng lại phải gắn với ngành nghề cụ thể. Có đến 70-80% thanh niên thành phố muốn học về tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh; trong khi nhiều ngành khác như công nghệ thông tin, chế tạo máy… không có ai học. Trong thời điểm kinh tế phát triển, thì cần thu hút nhân lực ngân hàng, tài chính; nhưng khi cơ cấu nền kinh tế thay đổi, bị tác động của khủng hoảng kinh tế… thì những ngành này sẽ khó xin việc làm.

Nguyên nhân thứ 4 là việc xác định tính bền vững về nghề nghiệp của thanh niên còn yếu, chúng ta vẫn theo xu thế nghề thời thượng, nghề thu nhập cao, nghề được xã hội đánh giá cao, mà chưa chọn nghề phù hợp với năng lực bản thân. Mỗi chúng ta có năng lực nhất định, có người hợp với hội họa, có người hợp thể thao… “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, khi có nghề nghiệp chuyên sâu thì mới sống được bằng nghề và phát huy được tài năng.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế- xã hội Quốc gia: Nội dung chương trình học xa rời thực tế

Thực tế người có trình độ chuyên môn cao lại thất nghiệp, trong khi đó thị trường lao động lại cần lao động kỹ năng, đã dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Bên cạnh đó là vấn đề về chất lượng và nội dung đào tạo, ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp hầu như đều phải đào tạo lại, đào tạo qua thực tiễn, qua công việc hàng ngày, để giúp cho người lao động dần thích nghi với công việc. Quan trọng nhất là nội dung đào tạo phù hợp với thị trường lao động. Theo tôi, cần dự báo được nhu cầu lao động theo ngành nghề, để từ đó đào tạo nguồn cung cho phù hợp, đáp ứng và tạo sự kết nối với nhau.

Về tầm vĩ mô, các bộ liên quan phải ngồi lại để cùng rà soát lại về tình trạng sinh viên ra trường lại không tìm việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề; chỉ ra nguyên nhân tại sao dư thừa, từ đó kết nối cung cầu thị trường lao động. Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn chưa ngồi lại với nhau tìm ra giải pháp cũng như tiếng nói chung giải quyết vấn đề cung – cầu lao động.

Xuân Minh

(Theo baotintuc.vn )

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

(NVT-) Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương chiếm dao động từ 80 đến 90% lực lượng lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%.

Phát triển lao động tiền lương: một trong những nhân tố cơ bản để Việt Nam phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Báo đại đoàn kết online: Đăng ký dự thi Đại học, Cao đẳng 2014: Sóng gió cho một lựa chọn

Ngày 17-4 là hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ tại các trường THPT và thí sinh tự do nộp theo hệ thống các sở GD&ĐT, nhưng hạn nộp hồ sơ đăng kí dự thi trực tiếp tại trường ĐH đến hết ngày 24-4. Năm nay có khá nhiều thông tin mới liên quan tới kì thi đồi hỏi thí sinh cần tỉnh táo để khỏi lạc đường. 

Tuyển sinh ĐH, CĐ 2014 nhiều thông tin mới

Ám ảnh thất nghiệp
Nhiều buổi tư vấn hướng nghiệp cung cấp thông tin về nghề nghiệp và việc làm cho học sinh chuẩn bị tốt nghiệp THPT đã diễn ra ở mọi miền, mong giúp các em tránh những lựa chọn sai gây lãng phí thời gian và công sức khi chọn ngành học và trường học. Tuy nhiên con số 72.000 cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp tạo áp lực lớn vì không phải số người thất nghiệp này chưa từng được tư vấn hướng nghiệp trước đó.
Cho rằng hiện tượng thất nghiệp lớn và quá lãng phí này là “lỗi do đào tạo” không sai nhưng căn bản, lỗi do hướng nghiệp, khi nhu cầu thị trường lao động hiện nay không Bộ ngành nào chịu trách nhiệm thống kê, quy hoạch các bậc đào tạo, dự báo cụ thể nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn. Quy hoạch nhân lực quốc gia cho thấy tới năm 2015 Việt Nam cần khoảng 3,5 triệu lao động trình độ đại học trở lên, nhưng thực tế cuối năm 2013 đã có hơn 3,7 triệu lao động có trình độ này, không thất nghiệp mới lạ.
Theo TS.Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, một khi quy chế thi ĐH, CĐ ban hành trước quy chế thi tốt nghiệp THPT, học sinh phải làm hồ sơ dự thi ĐH xong rồi mới làm thủ tục thi tốt nghiệp thì học sinh lớp 12 chưa kịp tốt nghiệp đã chuẩn bị sẵn tâm lý lao vào các kỳ thi ĐH, CĐ. Đây là một lý do để hầu hết bị “lùa vào ĐH”.
TS Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia cho rằng cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương ngày càng nhiều. “Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương dao động từ 85 đến 90% dân số trong độ tuổi lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%”.
Biết mình biết đời
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực TP.HCM, hiện nay “hầu hết các em học sinh, khi chọn ngành học cho mình đều hết sức cảm tính.
Để tránh sự định hướng sai trong việc chọn nghề, theo các chuyên gia hướng nghiệp, học sinh phải xác định được sở thích và thế mạnh của mình, hãy tự đặt và trả lời hai câu hỏi là công việc nào khiến bạn thích làm nhất trong cuộc sống? Bạn thường làm những công việc nào tốt hơn người khác? Chọn ra đáp án chung cho cả hai câu hỏi là đã xác định được mình thích và làm tốt được việc gì.
Song để không lúng túng và có sự đầu tư tốt cho nghề nghiệp trong tương lai, còn cần tìm hiểu để có những hiểu biết nhất định về thị trường lao động, về nhu cầu, điều kiện việc làm, ngành nghề đào tạo, tuyển dụng….
Theo nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia công bố tại hội thảo đầu tháng 4.2014, sự gia tăng lực lượng lao động nước ta nhanh hơn tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm khiến áp lực tạo việc làm mới khá cao. Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm giai đoạn 2002-2012 là 1,05%, trong khi tốc độ tăng lực lượng lao động 2,64% – cao hơn 2 lần.
Tuy vậy vẫn thiếu lao động chất lượng cao ở mọi bậc đào tạo, từ trung cấp tới cao đẳng.
Không dễ mắc lừa
Kỳ tuyển sinh ĐH năm nay Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia HN) công bố mức thưởng 30 triệu đồng/ thí sinh thi vào trường đạt điểm tuyệt đối 30/30. Nếu đạt 29,5/30 điểm được thưởng 10 triệu đồng, 29/30 điểm được thưởng 5 triệu đồng. Đây là chính sách ưu đãi của nhà trường để thu hút nhân tài và nâng cao thương hiệu trường. Các trường ĐH Giáo dục, ĐH Công nghệ, chương trình chất lượng cao của ĐH Quốc gia HN cũng có nhiều ưu tiên tuyển sinh và thưởng nóng cho thí sinh điểm thi cao.
Ngoài những học bổng kiểu truyền thống dành cho những thủ khoa, á khoa, học sinh giỏi… năm nay, nhiều hình thức học bổng bị biến tướng thành các chiêu đánh bóng tên tuổi, quảng bá và thu hút thí sinh, cần tỉnh táo cân nhắc, nhất là học bổng dành cho thí sinh… nhập học sớm nhất.
Sở GD&ĐT Hải Phòng cũng vừa cảnh báo tình trạng thu nhận hồ sơ thi ĐH, CĐ “chui” khi thời gian qua, một số trường ĐH, CĐ đã đến các đơn vị đăng ký dự thi như trường THPT, Trung tâm GDTX ở thành phố để “tư vấn, hướng nghiệp” cho học sinh lớp 12 rồi cung cấp hồ sơ miễn phí cho thí sinh và đề nghị lãnh đạo và cán bộ tuyển sinh của các đơn vị thu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh và bàn giao trực tiếp cho các tổ chức cá nhân này không thông qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Việc làm trên là trái với quy định của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hải Phòng không chịu trách nhiệm với các hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh không nộp qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Cân nhắc chọn trường, ngành xét tuyển, ngành thi 
Kỳ tuyển sinh 2014 có nhiều thay đổi. Ngoài đợt thi 3chung thí sinh có thêm cơ hội thử sức ở hơn 60 trường tuyển sinh riêng, dù thông tin ban đầu cho thấy thí sinh chưa mặn mà với các trường thi riêng này.
Các trường ĐH vùng như ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đồng Tháp, ĐH Vinh… đăng ký tuyển sinh theo phương án “3 chung”, nhưng có một số ngành tuyển sinh riêng. “Những trường khác đã đăng ký tuyển sinh riêng với Bộ hoặc có trường tới 75% chỉ tiêu tuyển sinh “3 chung”, còn lại là xét tuyển dựa trên kết quả học tập THPT hay xét kết quả thi tốt nghiệp”, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT lưu ý.
“Các em không nên vội vàng nộp hồ sơ đăng ký dự thi bởi ngoài việc nộp trực tiếp tại các trường THPT theo tuyến các Sở GD&ĐT, vẫn còn thời gian để nộp tại các trường ĐH, CĐ có tổ chức thi tuyển đến hết ngày 24-4”, ông Trần Văn Nghĩa – Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) nói.
Hôm nay 15-4 là hạn cuối đăng ký sơ tuyển vào khối trường Quân đội. Đối với hệ dân sự của các trường quân đội thì thí sinh đăng ký dự thi (ĐKDT) giống như các trường ngoài quân đội tham gia kì thi “3 chung” của Bộ GD&ĐT. Thí sinh không phải tham gia sơ tuyển khi đăng ký theo học các ngành hệ dân sự.

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

(NVT)- Quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Ảnh toàn cảnh Hội thảo (Nguồn MPI Portal)

Ngày 1 tháng 4 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia (NCSEIF) và Viện Nghiên cứu KT-XH Ireland (ESRI) đồng tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”.

Áp lực tạo việc làm mới ngày càng cao

Lao động Việt Nam sẽ càng ngày càng thiếu việc làm

Chất lượng lao động chưa cao

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Áp lực việc làm ngày càng nặng

Giải pháp nào để phát triển thị trường lao động Việt Nam?

Tìm giải pháp hiệu quả để phát triển thị trường lao động Việt Nam

Sức ép cung – cầu trong thị trường lao động

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Thị trường lao động cần tận dụng giai đoạn dân số vàng

 Tại hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012”  đã cung cấp một bức tranh tiếp cận từ vĩ mô đển vi mô (Từ góc độ nguồn cung lao động của cả nước đến góc độ nguồn cung lao động ở nông thôn/thành thị, nguồn cung lao động của nam và nữ) đã cho thấy:

Thứ nhất, quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Nguyên nhân của quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại đang lớn dần là do dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam đông và hàng năm số người trong nhóm dân số trẻ này gia nhập vào lực lượng lao động cũng nhiều, cũng như dân số quá tuổi lao động vẫn có nhu cầu việc làm hoặc vẫn tham gia các hoạt động kinh tế đang trong xu hướng gia tăng.

Nguyên nhân của tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng là do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và yếu tố vùng/miền khác nhau như mức sống gia đình giảm , vùng/địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thời gian học tập của dân số trong độ tuổi lao động giảm…

Thứ hai, Việt Nam đang là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ cao hơn so với phần lớn các nước trên thế giới. Tỷ lệ này đang trong xu hướng tăng, tăng ở cả nông thôn lẫn thành thị. Nói cách khác, ở nông thôn và thành thị đều có nguồn cung lao động nữ khá dồi dào.

 Nguyên nhân là do phụ nữ phụ ở nông thôn cũng như ở thành thị ngày càng có nhu cầu tham gia lao động. Mặt tính cực của xu hướng này thể hiện tính năng động của phụ nữ và cơ hội tham gia ít khác biệt giữa nam và nữ trong lực lượng lao động của Việt Nam nói chung …

Thứ ba, xét theo khu vực nông thôn/thành thị thì lực lượng lao động ở nông thôn đang trong xu hướng giảm, trong khi ở thành thị lại đang trong xu hướng tăng.

Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho diện tích khu vực nông thôn dần dần bị thu hẹp lại. Điều này đồng nghĩa với lực lượng lao động ở khu vực nông thôn đang giảm, lực lượng lao động ở khu vực thành thị đang tăng…

%d bloggers like this: