Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta

Lao động làm công ăn lương ở nước ta đang trong xu hướng phát triển, đặc biệt là phát triển trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Điều này đồng nghĩa với thị trường lao động ở nước ta cũng đang trong xu hướng phát triển. Bên cạnh xu hướng phát triển vừa nêu cần được quan tâm thì chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình ở nước ta cũng đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhân dịp số đặc biệt Mừng Xuân 2017, Mừng đất nước đổi mới, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Văn Thuật với chủ đề “Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta”.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

PV: Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Đề cập đến lao động làm công ăn lương và sự phát triển của nó là một vấn đề khá vĩ mô, khá rộng lớn trong kinh tế thị trường. Bởi sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản có tác động tích cực vào cấu trúc kinh tế – xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản của kinh tế thị trường nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi của cuộc trao đổi này, tôi xin trả lời khái quát như sau:

Ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung như Mỹ, Anh, Đức, Pháp,…,lao động làm công ăn lương chiếm dao động khoảng từ 80 – 90% lực lượng lao động. Có thể nói, tỷ lệ này là một chỉ báo quan trọng góp phần giúp cho việc nghiên cứu, phân tích để phản ánh và lý giải trình độ phát triển kinh tế – xã hội chung của mỗi quốc gia. Nói cách khác, sự phát triển của lao động làm công ăn lương là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường chính là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một sâu rộng hơn của mỗi nền kinh tế trong bối cảnh mỗi quốc gia đều phải chủ động tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa. Xét cho cùng, có thể thấy, nếu không có sự phát triển của lao động làm công ăn lương trong từng thành phần kinh tế nói chung, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói riêng thì sẽ không có sự phát triển của thị trường lao động một cách đầy đủ theo quy luật tất yếu của nó, cũng như các thị trường khác dựa trên sự phân công lao động xã hội khách quan và ngược lại.

Khi lao động làm công ăn lương trong một nền kinh tế chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của nền kinh tế đó, nó cho thấy nền kinh tế đó, quốc gia đó có sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua đó tạo ra được nhiều việc làm để cho người lao động có cơ hội lựa chọn và nâng cao thu nhập, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cung cầu lao động và tính khách quan, tính phù hợp trong phân công lao động, từ đó có tác động tích cực đến sự phát triển của các thị trường khác. Nói một cách tổng quát thì tính năng động và sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách lao động tiền lương và chính sách phát triển kinh tế – xã hội khác trong một nền kinh tế thị trường dù là phát triển hay đang phát triển.

Về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở nước ta có thể nói như sau:

– Thời kỳ bao cấp: Lao động làm công ăn lương chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và vì vậy, nội hàm của khái niệm lao động làm công ăn lương cũng đã không được hiểu đầy đủ như hiện nay vì khi đó nước ta không đi theo kinh tế thị trường.

– Thời kỳ đổi mới: Nước ta bắt đầu chuyển đổi sang và phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Đây là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhờ đó các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, đưa nền kinh tế của nước ta phát triển sâu rộng hơn, đời sống của các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, lao động trong các thành phần kinh tế cũng ngày một đa dạng và phát triển hơn.

Theo tính toán của tôi dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân hàng năm lao động làm công ăn lương của nước ta tăng khoảng 660.000 người trong giai đoạn 2011-2015 và tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năm 2011, lao động làm công ăn lương của nước ta là khoảng 17.500.000 người, chiếm 34,6% lực lượng lao động có việc làm thì đến năm 2015, lao động làm công ăn lương ước tính đã tăng lên 20.800.000 người, chiếm 39,3% lực lượng lao động có việc làm. Riêng năm 2015 là năm có số lượng lao động làm công ăn lương tăng cao nhất so với các năm khác trong giai đoạn 2011-2015, do đó, đây cũng là năm mà nước ta đã giải quyết được nhiều việc làm nhất cho người lao động trong cùng giai đoạn vừa nêu. Điều cũng đáng chú ý nữa là lao động làm công ăn lương tuổi từ 60 trở lên năm 2015 chiếm 2,1% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước.

Về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước (Lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 không có sự gia tăng về số lượng theo hướng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là năm 2011 có khoảng 5.250.000 người thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn khoảng 5.185.000 người.

Về lao động trong khu vực doanh nghiệp (Lao động trong  khu vực doanh nghiệp là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 thì có sự gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là khu vực có lực lượng lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 70% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước trong năm 2015.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta đang trong xu hướng phát triển được thể hiện bằng sự gia tăng hàng năm về số lượng và tỷ trọng trong lực lượng lao động có việc làm như tôi đã đề cập, còn về chất lượng thì thông qua tiêu chí trình độ học vấn và thể lực cũng ngày một cao hơn,… Nói cách khác, sự phát triển này là một thực tế không thể đảo ngược được trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

PV: Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động của nước ta. Trong đó, có chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, xin ông cho biết quan điểm của ông về chủ trương này?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động. Trong đó, Bộ này đưa ra hai phương án tuổi nghỉ hưu: phương án 1 là giữ như hiện hành (nam 60 và nữ 55 tuổi) và phương án 2 là tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực (01/01/2018), tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi.

Đề xuất này đã và đang có không ít góc nhìn đa chiều từ cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các chuyên gia nói riêng và ngay cả những người lao động làm công ăn lương như công nhân, công chức, viên chức nói chung. Phân tích lý do cho việc đồng tình hay không đồng tình về chủ trương này khi họ đưa ra thì đều có cơ sở nhất định. Có thể nói, chính vì lẽ đó mà 2 phương án về tuổi nghỉ hưu mới được đưa ra để xem xét.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta đợt này không phải là lần đầu tiên mà trước đây chúng ta cũng đã đề xuất rồi nhưng Quốc hội không thông qua. Hơn nữa, tại Khoản 3 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật Lao động hiện hành cũng cho phép người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.

Quan điểm của tôi là nên giữ tuổi nghỉ hưu như hiện hành (phương án 1), còn tăng tuổi nghỉ hưu như đã nêu (phương án 2) là chưa phù hợp xét ở một số lĩnh vực kinh tế – xã hội và loại hình việc làm của người lao động làm công ăn lương, đặc biệt là xét theo trục phát triển của lao động làm công ăn lương trong điều kiện của nước ta từ nay đến tối thiểu là năm 2022. Vì vậy, ở đây tôi chỉ đề cập đến tính chưa phù hợp của chủ trương này khi soi xét vào trục phát triển chung của lao động làm công ăn lương ở nước ta được thể hiện ở 3 nhóm lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lao động làm công ăn lương của nước ta dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn còn chậm, ước tính chiếm gần 40% lực lượng lao động có việc làm hiện nay. Trong lực lượng lao động có việc làm thì phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (ước tính chiếm gần 80% lao động có việc làm) và trong lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có việc làm thì cũng có không ít lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học làm việc không đúng với chuyên môn mà họ đã được đào tạo do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ngoài ra, ước tính cũng còn hàng trăm nghìn người lao động trẻ có trình độ đại học và sau đại học đang thất nghiệp.

Thứ hai, tình trạng người sử dụng lao động nói chung hay doanh nghiệp nói riêng lách luật, giao kết sai hợp đồng lao động còn diễn ra khá phổ biến không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động làm công ăn lương. Chẳng hạn như người lao động làm việc không có hợp đồng lao động, làm việc theo hợp đồng miệng trái với quy định, hoặc việc ký hợp đồng lao động xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp hay việc ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, hoặc là thang bảng lương được xây dựng thành nhiều bậc, tách tiền lương thành nhiều khoản để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…. Những điều này ít nhiều làm cho hành lang pháp lý về lao động có tính hiệu lực và hiệu quả không cao, gây trở ngại cho trục phát triển của lao động làm công ăn lương và có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống an sinh xã hội.

Thứ ba, ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch hay Xingapo thì tuổi nghỉ hưu đều được quy định cao hơn phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nước ta nhưng lao động làm công ăn lương ở các nước này đều chiếm dao động từ khoảng 80 – 90% lực lượng lao động. Tuổi nghỉ hưu ở các nước phát triển cao hơn nước ta là nhằm tận dụng những mặt tích cực trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước nhưng có điểm chung là góp phần bù đắp thiếu hụt nhân lực và hạn chế nhập khẩu lao động từ các nước khác,….Trong khi dự báo đến năm 2022, lao động làm công ăn lương của nước ta cũng sẽ chỉ chiếm khoảng trên 47% lực lượng lao động có việc làm.

Trên cơ sở của 3 nhóm lý do nêu trên có thể kết luận chung như sau: Tăng tuổi nghỉ hưu đặt trong điều kiện, bối cảnh của trục phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta như đã nói trên thì nó cho thấy việc thực hiện này là chưa phù hợp, thậm chí thực hiện nó có thể gây trở ngại nhất định cho việc tận dụng thời kỳ dân số vàng của nước ta nói chung và sự phát triển của thị trường lao động nói riêng.

PV: Theo ông, nếu kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước thì sẽ có tác động như thế nào đến công tác tinh giản biên chế của nước ta?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Tinh giản biên chế và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước là hai vấn đề phức tạp. Như tôi đã nói, đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta là chưa phù hợp, trong đó đã hàm ý cả việc chưa nên kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước (nam 62, nữ 60 tuổi), mà theo tôi, chúng ta nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tinh giản biên chế theo như Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2017 về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Vì lý do cụ thể đó mà tôi không đề cập đến tác động của việc này đến việc kia hoặc hai vấn đề đó có mối quan hệ như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng và xuyên suốt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sức khỏe, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt để phục vụ nhân dân nói chung và kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển nói riêng,…. Tuy nhiên, thời gian qua, dự luận đã đề cập đến một số hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự ở bộ máy nhà nước. Đó là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước “sáng cắp ô đi tối cắp về” dẫn đến hiện tượng người làm không hết việc, thậm chí phải làm ngoài giờ trong khi không ít người làm thì ít, chơi thì nhiều, đến tháng lĩnh lương,… Dù chưa có số liệu chính thức về công chức không làm được việc, nhưng nếu theo ước tính của các chuyên gia thì có tới 30% công chức không làm được việc, tương đương 700.000 người, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Nếu chúng ta đẩy mạnh tinh giản biên chế hiệu quả và kiên quyết hơn nữa việc đưa ra khỏi nền công vụ những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc; đồng thời lấy và giữ được những cán bộ đáp ứng được và tốt yêu cầu công việc thì việc kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chưa cần thiết để đảm bảo cho bộ máy nhà nước không phình lên mà vẫn đảm bảo được tiêu chí ngày càng tạo nhiều cơ hội hơn cho lao động trẻ, tri thức trẻ lựa chọn việc làm và được cống hiến, cũng như bảo đảm được mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Hơn nữa, cán bộ, công chức, viên chức làm được việc sẽ không gặp cản trở nào trong công việc từ chính những người “sáng cắp ô đi tối cắp về”.

Mặt khác, cũng cần phải nói thêm rằng việc kéo dài thời gian công tác, kéo dài tuổi nghỉ hưu trong các cơ quan nhà nước cũng đang được thực hiện rồi. Chẳng hạn như Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ cũng cho phép việc việc kéo dài thời gian công tác khi đủ tuổi nghỉ hưu dựa trên một số tiêu chí nhất định, hoặc Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức ở một số chức danh lãnh đạo nhất định.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!

(Theo Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội)

Xuất khẩu nông sản sụt giảm: Nguyên nhân và khuyến nghị giải pháp

(NVT)- Xuất khẩu nông sản là một trong những chính sách thương mại quốc tế quan trọng của nước ta trong quá trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế. Nhờ đó, hàng hóa nông sản của nước ta đã và đang tạo dựng được chỗ đứng, cũng như thương hiệu trên thị trường quốc tế, đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu và là một cường quốc về nông sản trên thế giới,… Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản của nước ta còn đứng trước không ít những khó khăn, rào cản khi thâm nhập và duy trì thị trường nước ngoài. Đặc biệt là images828426_000001từ đầu năm đến nay, đầu ra một số mặt hàng nông sản chính xuất khẩu của nước ta lại sụt giảm đáng kể trong khi thị trường tiêu thụ ngoài nước ngày càng được phát triển và mở rộng theo đà của tiến trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế toàn cầu. Dó đó, việc làm rõ nguyên nhân cơ bản làm sụt giảm để trên cơ sở đó đưa ra được một số khuyến nghị có tính giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá trị nông sản là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn nước ta.

Từ khóa: Nông sản, nông nghiệp, xuất khẩu, thị trường quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Là một nước đi lên từ nông nghiệp bởi có nhiều lợi thế về sản xuất hàng nông sản trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy mà từ nhiều năm trở lại đây, hàng nông sản của nước ta đã và đang có vị trí ngày càng quan trọng trên thị trường hàng nông sản thế giới với các mặt hàng nông sản chủ yếu như : cà phê, điều, hạt tiêu, chè, gạo,…Tuy nhiên, thị trường nông sản thế giới cũng ngày càng chứa đựng những đòi hỏi khắt khe về nhiều phương diện khác nhau như: công nghệ sản xuất- chế biến, giá cả, chất lượng sản phẩm, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng và những thương lượng thương mại giữa các quốc gia,…Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số lượng thị trường xuất khẩu hàng nông sản nước ta trong những năm gần đây đã tăng khá nhanh, từ 107 thị trường năm 2008 đã tăng lên 129 thị trường trên toàn cầu ở năm 2013. Điều này cho thấy, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản trên phạm vi cả nước đã có nỗ lực rất lớn trong việc giữ ổn định thị phần và tìm kiếm thêm bạn hàng mới trên các thị trường truyền thống, không ngừng thâm nhập và mở rộng thị trường mới ở khắp các châu. Mới đây, việc ký kết hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á – Âu, giữa Việt Nam và Hàn Quốc; cũng như cuối năm nay, cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức sẽ được thành lập mà nước ta là một thành viên, cùng với hiệp định thương mại tự do đang chuẩn bị ký kết với Liên minh EU,… đang tạo thêm cơ hội cho nông sản Việt Nam khi hàng rào thuế quan đối với mặt hàng này hầu hết được dỡ bỏ,…

Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của nước ta lại chưa quan tâm thỏa đáng vào những tiêu chí cả thuận lợi, lẫn thách thức như đã nêu trên.Vì vậy, nông sản xuất khẩu của nước ta vẫn chủ yếu là xuất khẩu thô, giá trị và khả năng cạnh tranh còn thấp so với các nước trong khu vực,…

Tải bài viết tại đây: XK nong san sut giam nguyen nhan va khuyen nghi giai phap

Báo Nga khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa

(vietnamplus.vn)– Ngày 1/6, tờ Gazeta.ru, một trong 3 báo điện tử tư nhân lớn nhất ở Nga với lượng truy cập trung bình 3 triệu lượt/ngày có bài viết: “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận” của nhà báo Vladimir Koryagin.

Vấn đề biển đông cần sự đoàn kết cao của cộng đồng Asean

Ảnh chụp từ trang web Gazeta.ru

Tác giả đã đưa ra một số chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ yêu sách chủ quyền phi căn cứ của Trung Quốc và cung cấp cho đọc giả thông tin khái quát về diễn biến tranh chấp xung quanh quần đảo này. PV TTXVN tại Liên bang Nga giới thiệu nội dung bài viết:

400 năm không có Trung Quốc

Trong thế kỷ 20, Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng tiềm tàng mà xung đột có thể dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba. Tuy nhiên lịch sử xung đột xung quanh các vùng lãnh thổ tranh chấp nằm trên Biển Đông đã có lịch sử ít nhất vài thế kỷ. Về cơ bản, các nước trong diện tranh chấp đều đưa ra các bản đồ cổ làm bằng chứng nhằm khẳng định chủ quyền đối với một hoặc một vài hòn đảo.

Quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa lần đầu tiên được nhắc đến vào thế kỷ thứ 17 trong “Tuyển tập bản đồ chỉ dẫn các con đường dẫn xuống đất phía Nam” của Việt Nam dưới tên có nghĩa là “Cát vàng.”

Theo các tài liệu lịch sử, vào năm 1721 Việt Nam đã thành lập Cơ quan hành chính “Hoàng Sa” (Hoàng Sa là tên gọi bằng tiếng Việt của Paracel) nhằm khai thác tập trung các hòn đảo ở biển Đông, cũng như trang bị các tàu để tiến ra các đảo này.

Trong khi đó, trong các tàng thư và tài liệu của Trung Quốc thời đó, kể cả trong “Đại sử ký nhà Thanh” đều không nhắc đến hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Hoàng Sa cũng chỉ được một số ít các nhà đi biển người Pháp và Hà Lan nhắc đến, những người may mắn vượt qua Biển Đông thành công và đến được Việt Nam. Họ cũng viết rằng chính người Việt Nam đã thu được một số lượng lớn súng đạn và các đồ vật có giá trị khác từ những con tàu bị đắm khi đi qua các quần đảo này. Người Việt Nam thậm chí còn xây dựng một hạm đội quy mô nhỏ nhằm kiểm soát các tàu của nước ngoài đánh bắt cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Đến đầu thế kỷ 19, vua Gia Long, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và cũng là vị vua đầu tiên của Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thời gian này nhiều bản đồ các loại đã được xuất bản, trong đó Hoàng Sa được biểu thị là lãnh thổ của Việt Nam.

Năm 1838 nhà truyền giáo Công giáo Pháp Joan-Luis-Taberu đã xuất bản cuốn “Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (tạm dịch là cuốn từ điển tiếng Việt-Latinh). Trong đó quần đảo Hoàng Sa được định nghĩa là “Paracel seu Cát vàng.” Tiếp sau đó, nhà địa lý Hà Lan Villem Blau chính thức đặt tên cho đảo này bằng tiếng châu Âu là “Pracel.” Về sau này do sự mai một của thời gian và các nhà đi biển người Pháp truyền khẩu không chính xác nên “Pracel” đã bị gọi trệch đi thành “Le Paracel.”

Cuối thế kỷ 19 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa có 2 tàu chở đồng của Anh bị đắm. Người dân đảo Hải Nam của Trung Quốc trục vớt được và chiếm giữ hàng hoá trên tàu khiến chính quyền Anh hết sức bất bình. Khi đó Trung Quốc trả lời chính quyền Anh rằng quần đảo Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, vì vậy chính quyền nước này không chịu trách nhiệm trước bất cứ sự việc gì xảy ra ở đây.

(Ảnh chụp từ trang web)

Bành trướng trỗi dậy

Hiện trạng ở quần đảo Hoàng Sa lẽ ra được giữ nguyên dưới thời Pháp thuộc nếu như không có sự đối đầu Anh-Pháp và kéo theo sự ủng hộ tương ứng của Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1933 cuốn “Bản đồ quản lý hành chính mới của Trung Quốc” ra đời, trên đó Trường Sa và Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi theo tiếng Hán là “Nam Sa và Tây Sa” trực thuộc quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông.

Dưới tác động của bối cảnh mới này chính quyền đô hộ Pháp đã áp dụng một số biện pháp: Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp-Vương quốc Annam – quần đảo Hoàng Sa, 1816.” Cũng trong khoảng thời gian đó, Nhật tích cực hoạt động, đánh chiếm đầu tiên là Trường Sa sau đó là Hoàng Sa vào đầu thế chiến thứ hai.

Năm 1946, người Pháp và Việt Nam tiến ra quần đảo Hoàng Sa để giải giáp quân Nhật đang đồn trú tại đây, tuy nhiên bị quân đội Trung Quốc ngăn cản. Trong vòng 1 ngày, Quân đội Trung Quốc đã củng cố vững chắc lực lượng trên quần đảo và năm 1947 Tưởng Giới Thạch ban bố một quyết định, theo đó Trường Sa và Hoàng Sa chính thức mang tên gọi của Trung Quốc và thuộc thành phần lãnh thổ Trung Quốc. Lúc đó Bắc Kinh phớt lờ sự phản đối từ phía chính phủ Việt Nam và Pháp.

Khi Tưởng Giới Thạch và thân cận trong Quốc Dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan thì toàn bộ các đơn vị đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa cũng rút theo. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông lên nắm quyền tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này. Cùng thời điểm này Nhật Bản chính thức tuyên bố từ bỏ quyền và yêu sách đối với cả 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Điều này được ghi nhận trong Hiệp ước hoà bình San-Francisco 1951.

Năm 1956 Viễn chinh Pháp rút hoàn toàn khỏi lãnh thổ Việt nam và kể từ thời điểm này Việt Nam, vốn bị chia cắt làm 2 miền phải độc lập chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc. Cũng trong năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa còn Việt Nam chiếm giữ một phần, nơi trước đây quân đội Pháp kiểm soát.

Sự căng thẳng tình hình tiếp theo xảy ra vào năm 1959, khi Trung Quốc đưa 80 lính và vật liệu xây dựng lên quần đảo xây nhà kiên cố và sau đó dựng cờ Trung Quốc. Các đơn vị biên phòng miền Nam Việt Nam ngay lập tức có mặt tại các hòn đảo và bắt giữ toàn bộ người trên đó. Bắc Kinh chỉ thể hiện sự phẫn nộ bằng cách ra công hàm phản đối ở cấp Bộ Ngoại giao vì lo ngại phải chạm trán với quân đội Mỹ đến giúp đỡ chính quyền miền Nam Việt Nam.

Năm 1964 Mỹ đẩy mạnh can thiệp vào Việt Nam bằng cách hậu thuẫn chính quyền miền Nam.

Trung Quốc đã không thể lợi dụng sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt nam vào mục đích của mình và từ năm 1971 bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Việc này cho phép Trung Quốc hợp pháp hoá yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ các hòn đảo. Thời điểm đó Mỹ đang bận chuẩn bị ký Hiệp định hoà bình với Việt Nam, đồng thời rút toàn bộ quân ra khỏi các vùng cứ điểm ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, chính quyền miền Bắc Việt Nam cũng đang tập trung toàn bộ lực lượng để tiến hành chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn.

Trung Quốc đánh chiếm được Hoàng Sa một mặt do chính quyền miền Nam Việt Nam không còn nhận được sự hẫu thuẫn của Mỹ nên rất yếu và Mỹ-Trung không còn là đối thủ của nhau. Mặt khác chính quyền miền Bắc Việt Nam còn đang lo nhiệm vụ thống nhất đất nước nên chưa thể nêu yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa. Như vậy, việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa được xem như sự đã rồi, để từ đây Trung Quốc bắt đầu hướng bành trướng xuống quần đảo Trường Sa./.

(Theo Vietnamplus.vn)

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

(NVT-) Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương chiếm dao động từ 80 đến 90% lực lượng lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%.

Phát triển lao động tiền lương: một trong những nhân tố cơ bản để Việt Nam phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Báo đại đoàn kết online: Đăng ký dự thi Đại học, Cao đẳng 2014: Sóng gió cho một lựa chọn

Ngày 17-4 là hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ tại các trường THPT và thí sinh tự do nộp theo hệ thống các sở GD&ĐT, nhưng hạn nộp hồ sơ đăng kí dự thi trực tiếp tại trường ĐH đến hết ngày 24-4. Năm nay có khá nhiều thông tin mới liên quan tới kì thi đồi hỏi thí sinh cần tỉnh táo để khỏi lạc đường. 

Tuyển sinh ĐH, CĐ 2014 nhiều thông tin mới

Ám ảnh thất nghiệp
Nhiều buổi tư vấn hướng nghiệp cung cấp thông tin về nghề nghiệp và việc làm cho học sinh chuẩn bị tốt nghiệp THPT đã diễn ra ở mọi miền, mong giúp các em tránh những lựa chọn sai gây lãng phí thời gian và công sức khi chọn ngành học và trường học. Tuy nhiên con số 72.000 cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp tạo áp lực lớn vì không phải số người thất nghiệp này chưa từng được tư vấn hướng nghiệp trước đó.
Cho rằng hiện tượng thất nghiệp lớn và quá lãng phí này là “lỗi do đào tạo” không sai nhưng căn bản, lỗi do hướng nghiệp, khi nhu cầu thị trường lao động hiện nay không Bộ ngành nào chịu trách nhiệm thống kê, quy hoạch các bậc đào tạo, dự báo cụ thể nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn. Quy hoạch nhân lực quốc gia cho thấy tới năm 2015 Việt Nam cần khoảng 3,5 triệu lao động trình độ đại học trở lên, nhưng thực tế cuối năm 2013 đã có hơn 3,7 triệu lao động có trình độ này, không thất nghiệp mới lạ.
Theo TS.Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, một khi quy chế thi ĐH, CĐ ban hành trước quy chế thi tốt nghiệp THPT, học sinh phải làm hồ sơ dự thi ĐH xong rồi mới làm thủ tục thi tốt nghiệp thì học sinh lớp 12 chưa kịp tốt nghiệp đã chuẩn bị sẵn tâm lý lao vào các kỳ thi ĐH, CĐ. Đây là một lý do để hầu hết bị “lùa vào ĐH”.
TS Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia cho rằng cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương ngày càng nhiều. “Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương dao động từ 85 đến 90% dân số trong độ tuổi lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%”.
Biết mình biết đời
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực TP.HCM, hiện nay “hầu hết các em học sinh, khi chọn ngành học cho mình đều hết sức cảm tính.
Để tránh sự định hướng sai trong việc chọn nghề, theo các chuyên gia hướng nghiệp, học sinh phải xác định được sở thích và thế mạnh của mình, hãy tự đặt và trả lời hai câu hỏi là công việc nào khiến bạn thích làm nhất trong cuộc sống? Bạn thường làm những công việc nào tốt hơn người khác? Chọn ra đáp án chung cho cả hai câu hỏi là đã xác định được mình thích và làm tốt được việc gì.
Song để không lúng túng và có sự đầu tư tốt cho nghề nghiệp trong tương lai, còn cần tìm hiểu để có những hiểu biết nhất định về thị trường lao động, về nhu cầu, điều kiện việc làm, ngành nghề đào tạo, tuyển dụng….
Theo nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia công bố tại hội thảo đầu tháng 4.2014, sự gia tăng lực lượng lao động nước ta nhanh hơn tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm khiến áp lực tạo việc làm mới khá cao. Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm giai đoạn 2002-2012 là 1,05%, trong khi tốc độ tăng lực lượng lao động 2,64% – cao hơn 2 lần.
Tuy vậy vẫn thiếu lao động chất lượng cao ở mọi bậc đào tạo, từ trung cấp tới cao đẳng.
Không dễ mắc lừa
Kỳ tuyển sinh ĐH năm nay Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia HN) công bố mức thưởng 30 triệu đồng/ thí sinh thi vào trường đạt điểm tuyệt đối 30/30. Nếu đạt 29,5/30 điểm được thưởng 10 triệu đồng, 29/30 điểm được thưởng 5 triệu đồng. Đây là chính sách ưu đãi của nhà trường để thu hút nhân tài và nâng cao thương hiệu trường. Các trường ĐH Giáo dục, ĐH Công nghệ, chương trình chất lượng cao của ĐH Quốc gia HN cũng có nhiều ưu tiên tuyển sinh và thưởng nóng cho thí sinh điểm thi cao.
Ngoài những học bổng kiểu truyền thống dành cho những thủ khoa, á khoa, học sinh giỏi… năm nay, nhiều hình thức học bổng bị biến tướng thành các chiêu đánh bóng tên tuổi, quảng bá và thu hút thí sinh, cần tỉnh táo cân nhắc, nhất là học bổng dành cho thí sinh… nhập học sớm nhất.
Sở GD&ĐT Hải Phòng cũng vừa cảnh báo tình trạng thu nhận hồ sơ thi ĐH, CĐ “chui” khi thời gian qua, một số trường ĐH, CĐ đã đến các đơn vị đăng ký dự thi như trường THPT, Trung tâm GDTX ở thành phố để “tư vấn, hướng nghiệp” cho học sinh lớp 12 rồi cung cấp hồ sơ miễn phí cho thí sinh và đề nghị lãnh đạo và cán bộ tuyển sinh của các đơn vị thu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh và bàn giao trực tiếp cho các tổ chức cá nhân này không thông qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Việc làm trên là trái với quy định của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hải Phòng không chịu trách nhiệm với các hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh không nộp qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Cân nhắc chọn trường, ngành xét tuyển, ngành thi 
Kỳ tuyển sinh 2014 có nhiều thay đổi. Ngoài đợt thi 3chung thí sinh có thêm cơ hội thử sức ở hơn 60 trường tuyển sinh riêng, dù thông tin ban đầu cho thấy thí sinh chưa mặn mà với các trường thi riêng này.
Các trường ĐH vùng như ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đồng Tháp, ĐH Vinh… đăng ký tuyển sinh theo phương án “3 chung”, nhưng có một số ngành tuyển sinh riêng. “Những trường khác đã đăng ký tuyển sinh riêng với Bộ hoặc có trường tới 75% chỉ tiêu tuyển sinh “3 chung”, còn lại là xét tuyển dựa trên kết quả học tập THPT hay xét kết quả thi tốt nghiệp”, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT lưu ý.
“Các em không nên vội vàng nộp hồ sơ đăng ký dự thi bởi ngoài việc nộp trực tiếp tại các trường THPT theo tuyến các Sở GD&ĐT, vẫn còn thời gian để nộp tại các trường ĐH, CĐ có tổ chức thi tuyển đến hết ngày 24-4”, ông Trần Văn Nghĩa – Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) nói.
Hôm nay 15-4 là hạn cuối đăng ký sơ tuyển vào khối trường Quân đội. Đối với hệ dân sự của các trường quân đội thì thí sinh đăng ký dự thi (ĐKDT) giống như các trường ngoài quân đội tham gia kì thi “3 chung” của Bộ GD&ĐT. Thí sinh không phải tham gia sơ tuyển khi đăng ký theo học các ngành hệ dân sự.

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

(NVT)- Quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Ảnh toàn cảnh Hội thảo (Nguồn MPI Portal)

Ngày 1 tháng 4 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia (NCSEIF) và Viện Nghiên cứu KT-XH Ireland (ESRI) đồng tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”.

Áp lực tạo việc làm mới ngày càng cao

Lao động Việt Nam sẽ càng ngày càng thiếu việc làm

Chất lượng lao động chưa cao

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Áp lực việc làm ngày càng nặng

Giải pháp nào để phát triển thị trường lao động Việt Nam?

Tìm giải pháp hiệu quả để phát triển thị trường lao động Việt Nam

Sức ép cung – cầu trong thị trường lao động

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Thị trường lao động cần tận dụng giai đoạn dân số vàng

 Tại hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012”  đã cung cấp một bức tranh tiếp cận từ vĩ mô đển vi mô (Từ góc độ nguồn cung lao động của cả nước đến góc độ nguồn cung lao động ở nông thôn/thành thị, nguồn cung lao động của nam và nữ) đã cho thấy:

Thứ nhất, quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Nguyên nhân của quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại đang lớn dần là do dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam đông và hàng năm số người trong nhóm dân số trẻ này gia nhập vào lực lượng lao động cũng nhiều, cũng như dân số quá tuổi lao động vẫn có nhu cầu việc làm hoặc vẫn tham gia các hoạt động kinh tế đang trong xu hướng gia tăng.

Nguyên nhân của tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng là do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và yếu tố vùng/miền khác nhau như mức sống gia đình giảm , vùng/địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thời gian học tập của dân số trong độ tuổi lao động giảm…

Thứ hai, Việt Nam đang là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ cao hơn so với phần lớn các nước trên thế giới. Tỷ lệ này đang trong xu hướng tăng, tăng ở cả nông thôn lẫn thành thị. Nói cách khác, ở nông thôn và thành thị đều có nguồn cung lao động nữ khá dồi dào.

 Nguyên nhân là do phụ nữ phụ ở nông thôn cũng như ở thành thị ngày càng có nhu cầu tham gia lao động. Mặt tính cực của xu hướng này thể hiện tính năng động của phụ nữ và cơ hội tham gia ít khác biệt giữa nam và nữ trong lực lượng lao động của Việt Nam nói chung …

Thứ ba, xét theo khu vực nông thôn/thành thị thì lực lượng lao động ở nông thôn đang trong xu hướng giảm, trong khi ở thành thị lại đang trong xu hướng tăng.

Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho diện tích khu vực nông thôn dần dần bị thu hẹp lại. Điều này đồng nghĩa với lực lượng lao động ở khu vực nông thôn đang giảm, lực lượng lao động ở khu vực thành thị đang tăng…

Dám nghĩ quyết liệt, dám làm vì dân

TT – Tại cuộc giao lưu, đối thoại trong khuôn khổ dự án “Quốc hội trẻ” do Văn phòng Quốc hội tổ chức ngày 29-3 với sự tài trợ của Đại sứ quán Anh.

TS Nguyễn Sĩ Dũng (giữa): “Muốn có đại biểu Quốc hội thông thái thì phải có những cử tri thông thái” – Ảnh: Lê Kiên

Nhiều sinh viên đã thẳng thắn góp ý cho hoạt động của Quốc hội cũng như gửi gắm những kỳ vọng tới các đại biểu Quốc hội.

Trong phần giới thiệu về vai trò của Quốc hội trước hơn 200 sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội, Viện đại học Mở và Học viện Báo chí và tuyên truyền, TS Nguyễn Sĩ Dũng – phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – hi vọng “trong tương lai chúng ta sẽ có những đại biểu Quốc hội tài giỏi hơn, đức độ hơn, sẽ có những cử tri biết đòi hỏi nhiều hơn trách nhiệm của nghị sĩ”. Ông Dũng cũng mong muốn thông qua các hoạt động như thế này để sinh viên, thế hệ trẻ nhận thức đầy đủ về vai trò, hoạt động của Quốc hội và nhận biết rằng tương lai mình có thể trở thành đại biểu Quốc hội không.

Ứng cử hứa nhiều, trúng cử không thực hiện

“Mong các vị đại biểu Quốc hội dám nói trung thực, dám nghĩ quyết liệt và dám làm vì dân. Hi vọng các vị không chỉ làm việc vì nước vì dân, mà còn là tấm gương sáng về đạo đức để thế hệ trẻ noi theo”

Sinh viên Lê Thị Yến Ly

Không ngần ngại đối thoại với ông Dũng, bạn Ngô Lê Mỹ Linh, sinh viên Đại học Luật Hà Nội (Linh là con gái đại biểu Quốc hội Ngô Văn Minh – PV), chất vấn: “Bác Nguyễn Sĩ Dũng hi vọng sau này có những đại biểu Quốc hội đức độ hơn, cháu đề nghị bác giải thích rõ đức độ hơn là thế nào, phải chăng đại biểu Quốc hội thời nay đang có vấn đề về đức độ nên mới phải hi vọng vào tương lai?”.

Ông Dũng giải thích rằng khái niệm đức độ mình đưa ra hơi trừu tượng một chút. “Một trong những yêu cầu cơ bản nhất trong đạo đức nghị viện là không được xung đột lợi ích. Tức là anh đã làm hành pháp rồi thì không nên làm lập pháp. Tôi muốn nhấn mạnh khía cạnh đức độ trong vấn đề này… Ví dụ, một ông thứ trưởng là đại biểu Quốc hội thì làm sao để giám sát có hiệu quả ông bộ trưởng là cấp trên của mình” – ông Dũng giải thích.

Trả lời bổ sung, đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng khía cạnh đức độ liên quan đến cơ chế vận hành của Quốc hội: “Hiện nay Quốc hội VN chỉ có khoảng 30% đại biểu chuyên trách, thời gian dành cho hoạt động của Quốc hội rất ít, nhiều đại biểu kiêm nhiệm lại là cấp dưới của đối tượng chịu sự giám sát của mình, do đó chúng ta chưa có một Quốc hội chuyên nghiệp, điều này cũng ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào Quốc hội”.

“Các bạn có nhớ mình đã bầu cử cho những ai làm đại biểu Quốc hội không?” – ông Dũng hỏi sinh viên và bình luận rằng “muốn có những đại biểu Quốc hội thông thái thì phải có những cử tri thông thái, một khi chúng ta đi bầu cử mà không nhớ mình đã bầu cho ai thì chúng ta phải tự hỏi về trách nhiệm của mình”. Câu hỏi và nhận xét này của ông Dũng cũng được Ngô Lê Mỹ Linh “xin hỏi ngược lại”: “Đại biểu Quốc hội đã làm gì để gần dân, hiểu dân, để dân biết và dân tin ở mình? Cháu thấy có những đại biểu khi ứng cử tại địa phương thì hứa với cử tri rất nhiều, nhưng sau khi trúng cử thì không thấy thực hiện lời hứa, thậm chí một lời cảm ơn cử tri cũng không có”.

Xa lạ với thế hệ trẻ

“Quốc hội VN còn là một diễn đàn khá xa lạ với thế hệ trẻ” – Lê Thị Yến Ly, sinh viên Đại học Luật Hà Nội, nhận xét. Theo bạn Ly, hiện nay thanh niên tại các địa phương chưa được quan tâm đúng mức về văn hóa và việc làm. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, thanh niên gần như không có diễn đàn để sinh hoạt, thảo luận, nói lên ý kiến của mình. Tại giảng đường đại học thì lý thuyết không gắn với thực tiễn.

“Nhu cầu đào tạo ngành luật rất lớn nhưng sinh viên luật ra trường không có việc làm. Tại sao sinh viên không được học luật gắn với thực tiễn? Không được giao lưu với các hãng luật, tòa án? Sinh viên luật muốn tìm một bản án phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm là khá khó khăn. Sinh viên cần những giờ học có hiệu quả chứ không phải là nhiều giờ học hình thức” – Ly nói.

Trước các bạn trẻ, TS Bùi Sỹ Lợi – phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội – thú thật “rất buồn khi nghe nhận xét Quốc hội còn xa rời sinh viên”, nhưng ông cũng thú nhận “đó đang là sự thật”. Bản thân ông Lợi trong gần 15 năm làm đại biểu cũng rất hiếm khi tiếp xúc cử tri là sinh viên, trong khi đó nhiều vấn đề bức bách của đất nước như tình trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm, thực hiện bảo hiểm y tế liên quan mật thiết đến sinh viên, giới trẻ.

“Cháu thấy có nhiều đạo luật Quốc hội ban hành sau một thời gian ngắn lại phải sửa, có những điều luật không đi vào cuộc sống, phải chăng tầm nhìn của Quốc hội cũng còn hạn chế?” – bạn Lê Hồng Hạnh, sinh viên Đại học Luật Hà Nội, hỏi. Ông Lợi đáp: “Câu hỏi của bạn có trong tâm tư các đại biểu Quốc hội. Đúng là hệ thống pháp luật của chúng ta có vấn đề, khi xây dựng luật có lúc còn chưa cập nhật đầy đủ thông tin, chưa tham khảo tường tận tâm tư, nguyện vọng của các đối tượng điều chỉnh và chưa có những phân tích, đánh giá xác đáng. Quốc hội phải nỗ lực để khắc phục tình trạng luật khung, luật ống”.

Đối thoại với đại biểu Quốc hội, nhiều bạn sinh viên đã đưa ra các câu hỏi thẳng thắn, ngay cả những câu hỏi mà không ít người lớn vẫn cho là nhạy cảm như “VN có nên tổ chức Quốc hội theo mô hình lưỡng viện không?”. Không né tránh trả lời, TS Nguyễn Sĩ Dũng bày tỏ: “Quan điểm cá nhân tôi là nên tổ chức mô hình Quốc hội lưỡng viện, vì như vậy vừa có đại diện của các địa phương lại có đại diện của toàn dân”.

LÊ KIÊN

(Theo tuoitre.vn)

Nga chấp thuận bảo vệ Viktor Ianoukovitch

(NVT)- Tổng thống vừa bị phế truất ở Ukraine, ông Viktor Ianoukovitch được báo chí Nga cho biết là ông đã yêu cầu Nga bảo về cá nhân ông và Nga đã chấp thuận đề nghị này.

Ông Viktor Ianoukovitch (Ảnh France 24)

Ông Viktor Ianoukovitch cũng đã tuyên bố rằng ông luôn luôn là tổng thống hợp pháp của Ukraine. Theo dự kiến, ông sẽ có buổi họp báo vào lúc 17h (Giờ địa phương, tức 13h GMT) ngày mai tại thành phố Rostov trên sông Đông ở miền nam nước Nga, gần biên giới Ukraine.

(Theo France 24 và lefigaro)

%d bloggers like this: