GDP năm 2017 đạt, thậm chí vượt mục tiêu!

GDP quý 3 tăng 7,46% và nếu quý 4 đạt 7,31% thì mục tiêu tăng trưởng của cả năm 2017 sẽ về đích (đạt 6,7%).

Vậy GDP của nước ta có đạt được mục tiêu không?

GDP của nước ta năm 2017 sẽ đạt mục tiêu, thậm chí vượt mục tiêu, ước tính tăng 6,76%.

Một trong những yếu tố góp phần quan trọng nhất để đạt mục tiêu hoặc cao hơn mục tiêu như đã nêu trên là cầu tiêu dùng từ nay cho đến hết năm 2017 và sang tháng 1 năm 2018 tăng mạnh, tính theo quý trong năm thì quý 4 tăng cao hơn quý 3 năm 2017,…

Tóm lại, niềm tin người tiêu dùng và niềm tin doanh nghiệp đều tiếp tục lạc quan nên tất yếu dẫn đến GDP năm 2017 như đã nêu!

Số liệu được Tổng cục Thông kê công bố hôm 29/9/2017:

Không có văn bản thay thế tự động nào.

 

 

 

 

Advertisements

Thành tựu trong kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2015

Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của nước ta giai đoạn 2011-2015 đã bị ảnh hưởng không nhỏ do bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn và những diễn biến phức tạp về địa chính trị, cũng như do sức lực nội tại của nền kinh tế vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết cả khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của Chính phủ để vượt qua các rào cản đó, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ngày một ổn định hơn được thể hiện ở việc phân tích so sánh chỉ số tăng trưởng kinh tế và lạm phát cơ bản năm sau so với năm trước. Đặc biệt, thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát đã đạt được 2 năm 2014-2015 đang là nền tảng kế tiếp vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu này trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 của nước ta.

Từ khóa: thành tựu, tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cơ bản

1.Đặt vấn đề

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô. Sự tác động qua lại giữa hai vấn đề – hai hiện tượng này là rất phức tạp bởi chúng có thể tác động tích cực và cũng có thể tác động tiêu cực lẫn nhau, hoặc giữa chúng tồn tại tương đối độc lập trong những hoàn cảnh kinh tế – xã hội nhất định ở mỗi quốc gia. Thời gian qua, sự bất ổn của kinh tế thế giới và những tiềm ẩn của nó đã tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Để có được mức tăng trưởng kinh tế, không ít nước đã phải đánh đổi với mức lạm phát cao. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa 2 hiện tượng này. Ví dụ như:

– Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ tiêu cực, trong khi cũng có nghiên cứu khác lại cho kết qủa trái ngược với điều vừa nêu [1].

– Theo lý thuyết tài chính – tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và lạm phát là 2 hiện tượng độc lập. Nếu như lạm phát là hệ quả trực tiếp của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh thì hệ quả này là tạm thời, nhưng trong trung hạn và dài hạn thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính [2].

– Trường phái Keynes cho rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều [3].

– Ở nhiều quốc gia, chỉ số giá tiêu dùng hay lạm phát là cách tư duy về ổn định giá và là cơ sở để xác định nền kinh tế đã ổn định hay không. Bởi nếu giá tiêu dùng hoặc lạm phát cứ tăng, diễn biến khó kiểm soát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế [4].

(Nguồn: Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội, số Xuân Bính Thân 2016)

Tải bài viết tại đây: Lam phat va GDP

Xuất khẩu nông sản sụt giảm: Nguyên nhân và khuyến nghị giải pháp

(NVT)- Xuất khẩu nông sản là một trong những chính sách thương mại quốc tế quan trọng của nước ta trong quá trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế. Nhờ đó, hàng hóa nông sản của nước ta đã và đang tạo dựng được chỗ đứng, cũng như thương hiệu trên thị trường quốc tế, đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu và là một cường quốc về nông sản trên thế giới,… Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản của nước ta còn đứng trước không ít những khó khăn, rào cản khi thâm nhập và duy trì thị trường nước ngoài. Đặc biệt là images828426_000001từ đầu năm đến nay, đầu ra một số mặt hàng nông sản chính xuất khẩu của nước ta lại sụt giảm đáng kể trong khi thị trường tiêu thụ ngoài nước ngày càng được phát triển và mở rộng theo đà của tiến trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế toàn cầu. Dó đó, việc làm rõ nguyên nhân cơ bản làm sụt giảm để trên cơ sở đó đưa ra được một số khuyến nghị có tính giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá trị nông sản là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn nước ta.

Từ khóa: Nông sản, nông nghiệp, xuất khẩu, thị trường quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Là một nước đi lên từ nông nghiệp bởi có nhiều lợi thế về sản xuất hàng nông sản trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy mà từ nhiều năm trở lại đây, hàng nông sản của nước ta đã và đang có vị trí ngày càng quan trọng trên thị trường hàng nông sản thế giới với các mặt hàng nông sản chủ yếu như : cà phê, điều, hạt tiêu, chè, gạo,…Tuy nhiên, thị trường nông sản thế giới cũng ngày càng chứa đựng những đòi hỏi khắt khe về nhiều phương diện khác nhau như: công nghệ sản xuất- chế biến, giá cả, chất lượng sản phẩm, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng và những thương lượng thương mại giữa các quốc gia,…Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số lượng thị trường xuất khẩu hàng nông sản nước ta trong những năm gần đây đã tăng khá nhanh, từ 107 thị trường năm 2008 đã tăng lên 129 thị trường trên toàn cầu ở năm 2013. Điều này cho thấy, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản trên phạm vi cả nước đã có nỗ lực rất lớn trong việc giữ ổn định thị phần và tìm kiếm thêm bạn hàng mới trên các thị trường truyền thống, không ngừng thâm nhập và mở rộng thị trường mới ở khắp các châu. Mới đây, việc ký kết hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á – Âu, giữa Việt Nam và Hàn Quốc; cũng như cuối năm nay, cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức sẽ được thành lập mà nước ta là một thành viên, cùng với hiệp định thương mại tự do đang chuẩn bị ký kết với Liên minh EU,… đang tạo thêm cơ hội cho nông sản Việt Nam khi hàng rào thuế quan đối với mặt hàng này hầu hết được dỡ bỏ,…

Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của nước ta lại chưa quan tâm thỏa đáng vào những tiêu chí cả thuận lợi, lẫn thách thức như đã nêu trên.Vì vậy, nông sản xuất khẩu của nước ta vẫn chủ yếu là xuất khẩu thô, giá trị và khả năng cạnh tranh còn thấp so với các nước trong khu vực,…

Tải bài viết tại đây: XK nong san sut giam nguyen nhan va khuyen nghi giai phap

Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân nước ta: Nhìn lại giai đoạn 2008- 2013

(NVT)- Sự vận động của quy luật kinh tế thị trường nói chung ngày càng làm cho khu vực hoặc thành phần kinh tế ngoài nhà nước, chủ yếu là loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước có vị thế và vai trò chủ đạo ở các nền kinh tế phát triển, trong đó có sự đóng góp quan trọng của doanh nhiệp tư nhân. Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã được định vị từ năm 1990 và kể từ đó, các doanh nghiệp tư nhân trở thành một loại hình, một khu vực doanh nghiệp ngày càng đông đảo, có vị thế và vai trò cũng ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Vì vậy, để loại hình doanh nghiệp này “cất cánh”, đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế thì việc phân tích, đánh giá lại sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, qua đó làm rõ một số “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển của nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng đối với chính sự phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân nói riêng, với công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta nói chung.

(Ảnh minh họa)

Bấm vào đây để tải bài viết nàyNhin lai su phat trien cua doanh nghiep tu nhan nuoc ta giai doan 2008-2013

Kinh tế 2014: Đâu là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”?

(HQ Online)– Ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng: Con tàu kinh tế sẽ tiếp tục có thêm gia tốc tiến về phía trước. Tin vào điều đó bởi năm 2014 là năm được hội tụ cả ba nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

Thun li và thách thc đan xen trong năm 2014. nh: L.Bng

Đim mt ba nhân t giúp vượt khó

Trong bài viết đăng tải trên website của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ông Vũ Viết Ngoạn nhấn mạnh: Năm 2014 đang chờ đón chúng ta với nhiều hứa hẹn thành công.

“Con tàu kinh tế sẽ tiếp tục có thêm gia tốc tiến về phía trước. Tin vào điều đó bởi năm 2014 là năm được hội tụ của cả ba nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa” – ông Vũ Viết Ngoạn tỏ ra lạc quan.

Điểm mặt các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính quốc gia cho rằng: Kinh tế thế giới khởi sắc hơn đó là thiên thời. Thành tựu kinh tế chúng ta đạt được trong những năm qua, đặc biệt là kiến tạo nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định tạo cho chúng ta thế và lực mới chính là địa lợi. Kinh nghiệm điều hành chính sách vượt qua khủng hoảng, khắc phục khó khăn được tích lũy trong suốt sáu năm qua chính là nhân hòa.

Niềm tin và quyết tâm hành động sẽ giúp chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2014, tạo nền tảng bền vững để phát triển nhanh hơn trong giai đoạn tiếp theo.

TS Vũ Viết Ngoạn

“Biết tận dụng cả ba nhân tố này sẽ là một động lực quan trọng giúp chúng ta vượt qua thách thức” – ông Ngoạn bày tỏ quan điểm trong bài viết.

Còn Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) nhận định trong bản báo cáo vĩ mô 2014 rằng: Năm 2014 được đánh giá là năm mà kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi dựa trên những tiền đề đã đạt được trong năm 2013. GDP 2014 được dự báo tăng khoảng 5,7-5,8%, cao hơn năm 2013 (5,42%) nhưng vẫn sẽ ở mức thấp so với tiềm năng (6%).

Tuy vậy, tăng trưởng vẫn sẽ dựa nhiều vào khu vực vốn đầu tư nước ngoài nhưng khu vực nội địa sẽ được đẩy mạnh hơn so với năm 2013 nhờ nợ xấu và tín dụng tiếp tục được cải thiện.

Không ít thách thc đ “sưởi m” nn kinh tế

Song, nền kinh tế cũng đối mặt với không ít thách thức là đánh giá của hầu hết giới nghiên cứu về kinh tế.

Báo cáo của BSC cho rằng: Năm 2014 cũng được coi là năm bản lề để xét khả năng phục hồi và tái cơ cấu nền kinh tế, tạo tiền đề cho những bước “chuyển mình mạnh mẽ hơn” trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên để đạt được điều này sẽ phụ thuộc rất lớn vào định hướng chính sách điều hành cũng như quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế, mở cửa hơn với nhà đầu tư nước ngoài từ phía Nhà nước Việt Nam.

“Năm 2014 vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức, kinh tế Việt Nam trong các năm tiếp theo sau đó hoàn toàn có thể quay trở lại mức tăng trưởng cao trên 6% trước đó” – báo cáo của BSC dự báo.

Trong bài viết của mình, ông Vũ Viết Ngoạn cũng điểm mặt nhiều thách thức cho nền kinh tế. Những khó khăn là mức cầu nội địa trong năm 2014 chưa thể cải thiện nhiều, doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, nợ xấu còn cao; tiến trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng chưa thể tạo sự thay đổi đột phá về năng suất lao động trong năm 2014.

Những thách thức trong 2014 còn là bài toán khó của cân đối ngân sách; áp lực tăng thêm nợ công, áp lực trả nợ của Chính phủ trong năm 2014 và một số năm tiếp theo…

Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, ông Vũ Viết Ngoạn chia sẻ: Yêu cầu đặt ra cho các nhà hoạch định và điều hành chính sách là phải kiên định mục tiêu, đánh giá và dự báo sát tình hình cũng như diễn biến của thị trường, qua đó lựa chọn chính sách và giải pháp thích hợp trên cả ba phương diện: thời điểm thực thi, liều lượng và khung thời gian của chính sách.

Lương Bng

Cải cách để huy động nguồn lực

(Ngườ lao động online)- Nguồn lực trong dân còn rất lớn, từ vốn đến ý tưởng cũng như các yếu tố khác. Ngoài ra, phải đánh giá đúng để phát huy tốt vai trò của khu vực tư nhân

Tinh thần Luật Doanh nghiệp (DN) 1999 dường như đang trở lại khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) vừa thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án Nghiên cứu cải cách kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014-2015, tầm nhìn đến năm 2025 (đề án).

Lấy đổi mới thể chế làm đột phá

Theo sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Bùi Quang Vinh giữ chức trưởng ban; Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương, ông Nguyễn Đình Cung, là Tổ trưởng Tổ Thư ký. Ông Cung là người trước đây từng giữ vai trò Thư ký Tổ Công tác thi hành Luật DN (tổ công tác) 1999.

Động thái đầu tiên khi bắt tay triển khai đề án của TS Nguyễn Đình Cung là gặp gỡ các cựu thành viên tổ công tác và Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ để thảo luận kinh nghiệm và bàn bạc cách làm.

Ông Cung trải lòng: “Tôi cảm nhận được sự bức bách trong DN đang đòi hỏi phải có sự thay đổi nhưng đổi thay như thế nào là rất khó”. Trước tiên, ban chỉ đạo sẽ sửa đổi Luật DN 2005, xây dựng các dự thảo nghị định liên quan đến quản lý DN nhà nước (DNNN). Mục đích là phải tạo sự thay đổi, đột phá từ tư duy đến hành động, trong đó lấy thị trường làm yếu tố quyết định, để cơ chế thị trường vận hành và chi phối quyết định phân bổ nguồn lực. Muốn làm được điều này, cần lấy khâu cải cách thể chế làm đột phá.

Đây cũng là cảm nhận chung của các thành viên tổ công tác trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với ông Nguyễn Đình Cung.

Ông Nguyễn Quốc Tuấn, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, nhấn mạnh rằng cái gốc của vấn đề là thể chế, trong đó phải cải cách cho được bộ máy hành chính. Bộ máy công vụ của một phường có đến 475 người mà vẫn kêu làm không hết việc thì không thể chấp nhận được!

Cùng quan điểm, bà Phạm Chi Lan, cũng là cựu thành viên như ông Tuấn, lo lắng cho rằng một trong những thành công của Luật DN là giảm can thiệp hành chính của nhà nước khi bãi bỏ được tổng cộng 158 giấy phép con, trả lại quyền tự do kinh doanh cho DN và người dân, kích hoạt được nguồn lực lớn trong xã hội làm ra của cải vật chất. Tuy nhiên, hiện nay, DN và người dân không được tự chủ trong kinh doanh do nhà nước can thiệp vào mọi việc, bộ máy hành chính ngày càng cồng kềnh.

TS Đặng Đức Đạm, nguyên Phó trưởng Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nói: “Tôi từng làm thư ký Ban Chỉ đạo cải cách hành chính, trong chăn mới biết chăn có rận. Cứ nhìn vào đội ngũ công chức mà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói “khoảng 30% sáng cắp ô đi, tối cắp về” trong khi Bộ trưởng Bộ Nội vụ nói chỉ có 1% là đủ biết bộ máy thế nào”.

Người dân làm thủ tục hành chính tại UBND quận Tân Bình, TP HCMẢnh: TẤN THẠNH
Người dân làm thủ tục hành chính tại UBND quận Tân Bình, TP HCMẢnh: TẤN THẠNH

Vốn trong dân rất lớn

TS Đặng Đức Đạm cho rằng đổi mới thể chế hiện nay cam go hơn  so với thời kỳ mới ban hành Luật DN vì các nhóm lợi ích rất nhiều, khó vượt qua.

Làm rõ hơn quan điểm này, nhiều ý kiến khác cho rằng DNNN đang nắm giữ nguồn lực quan trọng của đất nước nên có vai trò chi phối cơ hội kinh doanh, nay cải cách để phân bổ lại nguồn lực thì đương nhiên họ không hưởng ứng. Giống như chỉ có con đường duy nhất để tiến lên nhưng DNNN ì ạch đi phía trước, khu vực kinh tế khác không thể tiến lên được. Luật sư Trần Hữu Huỳnh (Trung tâm Trọng tài quốc tế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho rằng cần phải đồng bộ cải cách DNNN để giảm lực cản từ nhóm lợi ích và rộng đường phát triển kinh tế.

GS Nguyễn Mại, chuyên gia kinh tế, đánh giá: “Kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng phát triển nhanh, chỉ cần được kích hoạt” – GS Nguyễn Mại phân tích 3 cơ hội để kinh tế tư nhân bứt phá, đó là vốn trong dân rất lớn, ý tưởng kinh doanh không thiếu và có thể tận dụng nguồn lực từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Vốn trong dân rất lớn thể hiện ở việc năm 2013, Việt Nam nhận 11 tỉ USD kiều hối, tương đương 250.000 tỉ đồng trong khi tổng đầu tư xã hội chỉ đạt 800.000 tỉ đồng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước mua khoảng 400 tấn vàng về đấu thầu hết và còn hàng trăm tấn vàng khác tích trữ trong dân, chứng tỏ nguồn lực bị đóng băng không hề nhỏ.

Về ý tưởng kinh doanh, rất đáng lo ngại là năm 2013, cả nước có 100.000 sinh viên tốt nghiệp không có việc làm trong khi chỉ cần 1 người giỏi có ý thức thành lập DN sẽ thu hút được cả trăm người làm được việc. Một sinh viên Trường ĐH Văn Lang (TP HCM) từ chối du học Pháp để ở nhà nuôi gà omega-3, sau 1 năm lập nghiệp nay đã có thương hiệu; một Nguyễn Tử Quảng lập công ty cung ứng các sản phẩm công nghệ nhưng đều phải tự vật lộn, không ai hỗ trợ… Cũng theo GS Nguyễn Mại thì năm 2014 sẽ có triển vọng tươi sáng vì chúng ta đang có hướng nghiên cứu một đề án riêng về công nghiệp phụ trợ cho Samsung (năm 2013, tập đoàn này xuất khẩu đạt giá trị tới 20 tỉ USD). “Tinh thần kinh doanh nếu được kích hoạt sẽ phát huy rất tốt, chúng ta chỉ cần tạo cơ chế thuận lợi” – GS Mại nói.

Ông Mại cũng đề xuất cần có chính sách định hướng cho DN tư nhân, không để công ty nào cũng lao vào đầu tư, chứng khoán, bất động sản; có chính sách ưu đãi cho những người mới khởi nghiệp không phải đóng thuế cho đến khi có sản phẩm chính thức đưa ra thị trường để có doanh thu…

 Phải thay đổi ở tầm tư tưởng!

Dư địa để tạo ra một cuộc cải cách như Luật DN 1999 nay không còn. Muốn nền kinh tế có sức bật mới, cần có sự thay đổi ở tầm tư tưởng chứ không chỉ đơn thuần là chiến thuật, kỹ thuật như trước. Thị trường cần niềm tin, DN cần tín hiệu rõ ràng và có thể kiểm soát được từ các hành động, giải pháp của Chính phủ và các cơ quan thực thi.

Đổi mới thể chế đã được xác định là 1 trong 3 khâu đột phá. Nếu không đổi mới thì có thể chúng ta chỉ duy trì tăng trưởng trong khoảng 5%, thậm chí giảm xuống và tụt hậu xa hơn nữa so với các nước xung quanh. Trước hết, cần tập trung vào việc đổi mới thể chế kinh tế thị trường, làm cho thị trường vận hành tốt hơn, đầy đủ hơn. Thể chế có 3 trụ cột gồm “luật chơi”, “cách chơi” và “người chơi”. Chừng nào “luật chơi” và “cách chơi” vẫn còn bị chi phối bởi cơ chế “xin cho, ban phát”, dựa theo mối quan hệ chiều dọc từ trên xuống, từ dưới lên thì thị trường chưa thể vận hành lành mạnh. Do đó, cần đổi mới thể chế, thực hiện những cải cách mở rộng hoạt động, nâng cấp mức độ phát triển của thị trường và hội nhập quốc tế. Nhà nước phải tạo điều kiện và khuyến khích những giao dịch theo chiều ngang như cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên của thị trường giao dịch, cạnh tranh bình đẳng và hạn chế, xóa bỏ cơ chế “xin cho, ban phát”. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương thì còn nhiều dư địa để cải cách theo hướng này.

Đổi mới thể chế kinh tế thị trường, DNNN cũng sẽ bị áp đặt đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường, đưa khu vực DN này vào đúng quỹ đạo trong mối quan hệ nhà nước, thị trường và DN. Khi đó, DNNN sẽ bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có động lực để đổi mới và không còn là lực cản đối với các khu vực kinh tế khác.

TS Nguyễn Đình Cung (Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương)

 

 

Tết nghèo, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp

Vef.vn– Mặc dù là tháng giáp Tết Nguyên đán song, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 0,69% so với tháng trước. Đây là mức tăng thấp nhất 10 năm trở lại đây, ngoại trừ năm 2009.

Kêu gào khó khăn, dân Hà Nội vẫn thích mua ôtô, nhà đất

Sáng nay, 24/1, Tổng Cục Thống kê cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 năm nay chỉ đứng sau chỉ số giá tháng 1/2009 (0,32%). Kể từ năm 2004, CPI tháng đầu năm thường tăng cao trên 1%. Chẳng hạn như CPI tháng 1/2010 tăng 1,36%, CPI tháng 1/2011 tăng 1,74%; CPI tháng 1/2012 tăng 1,0% và cùng kỳ năm 2013 tăng 1,25%.

{keywords}
Nhu cầu mua sắm Tết năm nay giảm mạnh (ảnh minh họa: Phạm Huyền)

Thông thường, theo quy luật nhiều năm, đây là thời điểm nhu cầu mua sắm hàng hóa, chuẩn bị cho Tết Nguyên đán thường tăng cao nên giá cả thường nhích lên. Tuy nhiên, với tốc độ CPI khiêm tốn trên, có thể thấy sức mua thị trường vẫn đang ở mức rất thấp.

Ngoài ra, CPI thấp còn có nguyên nhân do nhiều địa phương triển khai các chương trình bình ổn giá những mặt hàng thiết yếu phục vụ Tết Nguyên Đán.

Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm giao thông tăng cao nhất với mức tăng 1,22%. Lý giải cho tốc độ tăng cao này là do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng ngày 18/12/2013 với mức tăng 2,38% đã đóng góp vào mức tăng CPI chung cả nước khoảng 0,86%.

Kế đến là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,02%. Các nhóm khác như may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,89%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,83%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,39%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,21%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; giáo dục tăng 0,01%.

Nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong CPI là hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhẹ, chỉ ở mức 0,77%, trong đó lương thực tăng 1,33%; thực phẩm tăng 0,75%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,32%.

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 năm nay của các trung tâm kinh tế lớn cũng tăng thấp như Hà nội tăng 0,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,4%; Thái Nguyên tăng 0,43%; Hải Phòng tăng 0,67%; Thừa Thiên Huế tăng 0,92%; Đà Nẵng tăng 0,74%; Khánh Hòa tăng 0,86%.

Chỉ số giá vàng tháng 1/2014 giảm 1,82% so với tháng trước và giảm 25,74% so với cùng kỳ năm 2013. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 1/2014 giảm 0,06% so với tháng trước; tăng 1,03% so với cùng kỳ năm 2013.

PHẠM HUYỀN (Vef.vn)

%d bloggers like this: