Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta

Lao động làm công ăn lương ở nước ta đang trong xu hướng phát triển, đặc biệt là phát triển trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Điều này đồng nghĩa với thị trường lao động ở nước ta cũng đang trong xu hướng phát triển. Bên cạnh xu hướng phát triển vừa nêu cần được quan tâm thì chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình ở nước ta cũng đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhân dịp số đặc biệt Mừng Xuân 2017, Mừng đất nước đổi mới, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Văn Thuật với chủ đề “Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta”.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

PV: Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Đề cập đến lao động làm công ăn lương và sự phát triển của nó là một vấn đề khá vĩ mô, khá rộng lớn trong kinh tế thị trường. Bởi sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản có tác động tích cực vào cấu trúc kinh tế – xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản của kinh tế thị trường nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi của cuộc trao đổi này, tôi xin trả lời khái quát như sau:

Ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung như Mỹ, Anh, Đức, Pháp,…,lao động làm công ăn lương chiếm dao động khoảng từ 80 – 90% lực lượng lao động. Có thể nói, tỷ lệ này là một chỉ báo quan trọng góp phần giúp cho việc nghiên cứu, phân tích để phản ánh và lý giải trình độ phát triển kinh tế – xã hội chung của mỗi quốc gia. Nói cách khác, sự phát triển của lao động làm công ăn lương là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường chính là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một sâu rộng hơn của mỗi nền kinh tế trong bối cảnh mỗi quốc gia đều phải chủ động tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa. Xét cho cùng, có thể thấy, nếu không có sự phát triển của lao động làm công ăn lương trong từng thành phần kinh tế nói chung, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói riêng thì sẽ không có sự phát triển của thị trường lao động một cách đầy đủ theo quy luật tất yếu của nó, cũng như các thị trường khác dựa trên sự phân công lao động xã hội khách quan và ngược lại.

Khi lao động làm công ăn lương trong một nền kinh tế chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của nền kinh tế đó, nó cho thấy nền kinh tế đó, quốc gia đó có sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua đó tạo ra được nhiều việc làm để cho người lao động có cơ hội lựa chọn và nâng cao thu nhập, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cung cầu lao động và tính khách quan, tính phù hợp trong phân công lao động, từ đó có tác động tích cực đến sự phát triển của các thị trường khác. Nói một cách tổng quát thì tính năng động và sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách lao động tiền lương và chính sách phát triển kinh tế – xã hội khác trong một nền kinh tế thị trường dù là phát triển hay đang phát triển.

Về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở nước ta có thể nói như sau:

– Thời kỳ bao cấp: Lao động làm công ăn lương chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và vì vậy, nội hàm của khái niệm lao động làm công ăn lương cũng đã không được hiểu đầy đủ như hiện nay vì khi đó nước ta không đi theo kinh tế thị trường.

– Thời kỳ đổi mới: Nước ta bắt đầu chuyển đổi sang và phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Đây là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhờ đó các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, đưa nền kinh tế của nước ta phát triển sâu rộng hơn, đời sống của các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, lao động trong các thành phần kinh tế cũng ngày một đa dạng và phát triển hơn.

Theo tính toán của tôi dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân hàng năm lao động làm công ăn lương của nước ta tăng khoảng 660.000 người trong giai đoạn 2011-2015 và tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năm 2011, lao động làm công ăn lương của nước ta là khoảng 17.500.000 người, chiếm 34,6% lực lượng lao động có việc làm thì đến năm 2015, lao động làm công ăn lương ước tính đã tăng lên 20.800.000 người, chiếm 39,3% lực lượng lao động có việc làm. Riêng năm 2015 là năm có số lượng lao động làm công ăn lương tăng cao nhất so với các năm khác trong giai đoạn 2011-2015, do đó, đây cũng là năm mà nước ta đã giải quyết được nhiều việc làm nhất cho người lao động trong cùng giai đoạn vừa nêu. Điều cũng đáng chú ý nữa là lao động làm công ăn lương tuổi từ 60 trở lên năm 2015 chiếm 2,1% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước.

Về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước (Lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 không có sự gia tăng về số lượng theo hướng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là năm 2011 có khoảng 5.250.000 người thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn khoảng 5.185.000 người.

Về lao động trong khu vực doanh nghiệp (Lao động trong  khu vực doanh nghiệp là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 thì có sự gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là khu vực có lực lượng lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 70% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước trong năm 2015.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta đang trong xu hướng phát triển được thể hiện bằng sự gia tăng hàng năm về số lượng và tỷ trọng trong lực lượng lao động có việc làm như tôi đã đề cập, còn về chất lượng thì thông qua tiêu chí trình độ học vấn và thể lực cũng ngày một cao hơn,… Nói cách khác, sự phát triển này là một thực tế không thể đảo ngược được trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

PV: Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động của nước ta. Trong đó, có chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, xin ông cho biết quan điểm của ông về chủ trương này?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động. Trong đó, Bộ này đưa ra hai phương án tuổi nghỉ hưu: phương án 1 là giữ như hiện hành (nam 60 và nữ 55 tuổi) và phương án 2 là tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực (01/01/2018), tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi.

Đề xuất này đã và đang có không ít góc nhìn đa chiều từ cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các chuyên gia nói riêng và ngay cả những người lao động làm công ăn lương như công nhân, công chức, viên chức nói chung. Phân tích lý do cho việc đồng tình hay không đồng tình về chủ trương này khi họ đưa ra thì đều có cơ sở nhất định. Có thể nói, chính vì lẽ đó mà 2 phương án về tuổi nghỉ hưu mới được đưa ra để xem xét.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta đợt này không phải là lần đầu tiên mà trước đây chúng ta cũng đã đề xuất rồi nhưng Quốc hội không thông qua. Hơn nữa, tại Khoản 3 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật Lao động hiện hành cũng cho phép người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.

Quan điểm của tôi là nên giữ tuổi nghỉ hưu như hiện hành (phương án 1), còn tăng tuổi nghỉ hưu như đã nêu (phương án 2) là chưa phù hợp xét ở một số lĩnh vực kinh tế – xã hội và loại hình việc làm của người lao động làm công ăn lương, đặc biệt là xét theo trục phát triển của lao động làm công ăn lương trong điều kiện của nước ta từ nay đến tối thiểu là năm 2022. Vì vậy, ở đây tôi chỉ đề cập đến tính chưa phù hợp của chủ trương này khi soi xét vào trục phát triển chung của lao động làm công ăn lương ở nước ta được thể hiện ở 3 nhóm lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lao động làm công ăn lương của nước ta dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn còn chậm, ước tính chiếm gần 40% lực lượng lao động có việc làm hiện nay. Trong lực lượng lao động có việc làm thì phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (ước tính chiếm gần 80% lao động có việc làm) và trong lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có việc làm thì cũng có không ít lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học làm việc không đúng với chuyên môn mà họ đã được đào tạo do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ngoài ra, ước tính cũng còn hàng trăm nghìn người lao động trẻ có trình độ đại học và sau đại học đang thất nghiệp.

Thứ hai, tình trạng người sử dụng lao động nói chung hay doanh nghiệp nói riêng lách luật, giao kết sai hợp đồng lao động còn diễn ra khá phổ biến không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động làm công ăn lương. Chẳng hạn như người lao động làm việc không có hợp đồng lao động, làm việc theo hợp đồng miệng trái với quy định, hoặc việc ký hợp đồng lao động xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp hay việc ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, hoặc là thang bảng lương được xây dựng thành nhiều bậc, tách tiền lương thành nhiều khoản để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…. Những điều này ít nhiều làm cho hành lang pháp lý về lao động có tính hiệu lực và hiệu quả không cao, gây trở ngại cho trục phát triển của lao động làm công ăn lương và có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống an sinh xã hội.

Thứ ba, ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch hay Xingapo thì tuổi nghỉ hưu đều được quy định cao hơn phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nước ta nhưng lao động làm công ăn lương ở các nước này đều chiếm dao động từ khoảng 80 – 90% lực lượng lao động. Tuổi nghỉ hưu ở các nước phát triển cao hơn nước ta là nhằm tận dụng những mặt tích cực trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước nhưng có điểm chung là góp phần bù đắp thiếu hụt nhân lực và hạn chế nhập khẩu lao động từ các nước khác,….Trong khi dự báo đến năm 2022, lao động làm công ăn lương của nước ta cũng sẽ chỉ chiếm khoảng trên 47% lực lượng lao động có việc làm.

Trên cơ sở của 3 nhóm lý do nêu trên có thể kết luận chung như sau: Tăng tuổi nghỉ hưu đặt trong điều kiện, bối cảnh của trục phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta như đã nói trên thì nó cho thấy việc thực hiện này là chưa phù hợp, thậm chí thực hiện nó có thể gây trở ngại nhất định cho việc tận dụng thời kỳ dân số vàng của nước ta nói chung và sự phát triển của thị trường lao động nói riêng.

PV: Theo ông, nếu kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước thì sẽ có tác động như thế nào đến công tác tinh giản biên chế của nước ta?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Tinh giản biên chế và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước là hai vấn đề phức tạp. Như tôi đã nói, đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta là chưa phù hợp, trong đó đã hàm ý cả việc chưa nên kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước (nam 62, nữ 60 tuổi), mà theo tôi, chúng ta nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tinh giản biên chế theo như Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2017 về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Vì lý do cụ thể đó mà tôi không đề cập đến tác động của việc này đến việc kia hoặc hai vấn đề đó có mối quan hệ như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng và xuyên suốt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sức khỏe, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt để phục vụ nhân dân nói chung và kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển nói riêng,…. Tuy nhiên, thời gian qua, dự luận đã đề cập đến một số hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự ở bộ máy nhà nước. Đó là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước “sáng cắp ô đi tối cắp về” dẫn đến hiện tượng người làm không hết việc, thậm chí phải làm ngoài giờ trong khi không ít người làm thì ít, chơi thì nhiều, đến tháng lĩnh lương,… Dù chưa có số liệu chính thức về công chức không làm được việc, nhưng nếu theo ước tính của các chuyên gia thì có tới 30% công chức không làm được việc, tương đương 700.000 người, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Nếu chúng ta đẩy mạnh tinh giản biên chế hiệu quả và kiên quyết hơn nữa việc đưa ra khỏi nền công vụ những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc; đồng thời lấy và giữ được những cán bộ đáp ứng được và tốt yêu cầu công việc thì việc kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chưa cần thiết để đảm bảo cho bộ máy nhà nước không phình lên mà vẫn đảm bảo được tiêu chí ngày càng tạo nhiều cơ hội hơn cho lao động trẻ, tri thức trẻ lựa chọn việc làm và được cống hiến, cũng như bảo đảm được mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Hơn nữa, cán bộ, công chức, viên chức làm được việc sẽ không gặp cản trở nào trong công việc từ chính những người “sáng cắp ô đi tối cắp về”.

Mặt khác, cũng cần phải nói thêm rằng việc kéo dài thời gian công tác, kéo dài tuổi nghỉ hưu trong các cơ quan nhà nước cũng đang được thực hiện rồi. Chẳng hạn như Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ cũng cho phép việc việc kéo dài thời gian công tác khi đủ tuổi nghỉ hưu dựa trên một số tiêu chí nhất định, hoặc Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức ở một số chức danh lãnh đạo nhất định.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!

(Theo Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội)

Advertisements

Cải cách để huy động nguồn lực

(Ngườ lao động online)- Nguồn lực trong dân còn rất lớn, từ vốn đến ý tưởng cũng như các yếu tố khác. Ngoài ra, phải đánh giá đúng để phát huy tốt vai trò của khu vực tư nhân

Tinh thần Luật Doanh nghiệp (DN) 1999 dường như đang trở lại khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) vừa thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án Nghiên cứu cải cách kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014-2015, tầm nhìn đến năm 2025 (đề án).

Lấy đổi mới thể chế làm đột phá

Theo sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ KH-ĐT Bùi Quang Vinh giữ chức trưởng ban; Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương, ông Nguyễn Đình Cung, là Tổ trưởng Tổ Thư ký. Ông Cung là người trước đây từng giữ vai trò Thư ký Tổ Công tác thi hành Luật DN (tổ công tác) 1999.

Động thái đầu tiên khi bắt tay triển khai đề án của TS Nguyễn Đình Cung là gặp gỡ các cựu thành viên tổ công tác và Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ để thảo luận kinh nghiệm và bàn bạc cách làm.

Ông Cung trải lòng: “Tôi cảm nhận được sự bức bách trong DN đang đòi hỏi phải có sự thay đổi nhưng đổi thay như thế nào là rất khó”. Trước tiên, ban chỉ đạo sẽ sửa đổi Luật DN 2005, xây dựng các dự thảo nghị định liên quan đến quản lý DN nhà nước (DNNN). Mục đích là phải tạo sự thay đổi, đột phá từ tư duy đến hành động, trong đó lấy thị trường làm yếu tố quyết định, để cơ chế thị trường vận hành và chi phối quyết định phân bổ nguồn lực. Muốn làm được điều này, cần lấy khâu cải cách thể chế làm đột phá.

Đây cũng là cảm nhận chung của các thành viên tổ công tác trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với ông Nguyễn Đình Cung.

Ông Nguyễn Quốc Tuấn, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, nhấn mạnh rằng cái gốc của vấn đề là thể chế, trong đó phải cải cách cho được bộ máy hành chính. Bộ máy công vụ của một phường có đến 475 người mà vẫn kêu làm không hết việc thì không thể chấp nhận được!

Cùng quan điểm, bà Phạm Chi Lan, cũng là cựu thành viên như ông Tuấn, lo lắng cho rằng một trong những thành công của Luật DN là giảm can thiệp hành chính của nhà nước khi bãi bỏ được tổng cộng 158 giấy phép con, trả lại quyền tự do kinh doanh cho DN và người dân, kích hoạt được nguồn lực lớn trong xã hội làm ra của cải vật chất. Tuy nhiên, hiện nay, DN và người dân không được tự chủ trong kinh doanh do nhà nước can thiệp vào mọi việc, bộ máy hành chính ngày càng cồng kềnh.

TS Đặng Đức Đạm, nguyên Phó trưởng Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nói: “Tôi từng làm thư ký Ban Chỉ đạo cải cách hành chính, trong chăn mới biết chăn có rận. Cứ nhìn vào đội ngũ công chức mà Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói “khoảng 30% sáng cắp ô đi, tối cắp về” trong khi Bộ trưởng Bộ Nội vụ nói chỉ có 1% là đủ biết bộ máy thế nào”.

Người dân làm thủ tục hành chính tại UBND quận Tân Bình, TP HCMẢnh: TẤN THẠNH
Người dân làm thủ tục hành chính tại UBND quận Tân Bình, TP HCMẢnh: TẤN THẠNH

Vốn trong dân rất lớn

TS Đặng Đức Đạm cho rằng đổi mới thể chế hiện nay cam go hơn  so với thời kỳ mới ban hành Luật DN vì các nhóm lợi ích rất nhiều, khó vượt qua.

Làm rõ hơn quan điểm này, nhiều ý kiến khác cho rằng DNNN đang nắm giữ nguồn lực quan trọng của đất nước nên có vai trò chi phối cơ hội kinh doanh, nay cải cách để phân bổ lại nguồn lực thì đương nhiên họ không hưởng ứng. Giống như chỉ có con đường duy nhất để tiến lên nhưng DNNN ì ạch đi phía trước, khu vực kinh tế khác không thể tiến lên được. Luật sư Trần Hữu Huỳnh (Trung tâm Trọng tài quốc tế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho rằng cần phải đồng bộ cải cách DNNN để giảm lực cản từ nhóm lợi ích và rộng đường phát triển kinh tế.

GS Nguyễn Mại, chuyên gia kinh tế, đánh giá: “Kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng phát triển nhanh, chỉ cần được kích hoạt” – GS Nguyễn Mại phân tích 3 cơ hội để kinh tế tư nhân bứt phá, đó là vốn trong dân rất lớn, ý tưởng kinh doanh không thiếu và có thể tận dụng nguồn lực từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Vốn trong dân rất lớn thể hiện ở việc năm 2013, Việt Nam nhận 11 tỉ USD kiều hối, tương đương 250.000 tỉ đồng trong khi tổng đầu tư xã hội chỉ đạt 800.000 tỉ đồng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước mua khoảng 400 tấn vàng về đấu thầu hết và còn hàng trăm tấn vàng khác tích trữ trong dân, chứng tỏ nguồn lực bị đóng băng không hề nhỏ.

Về ý tưởng kinh doanh, rất đáng lo ngại là năm 2013, cả nước có 100.000 sinh viên tốt nghiệp không có việc làm trong khi chỉ cần 1 người giỏi có ý thức thành lập DN sẽ thu hút được cả trăm người làm được việc. Một sinh viên Trường ĐH Văn Lang (TP HCM) từ chối du học Pháp để ở nhà nuôi gà omega-3, sau 1 năm lập nghiệp nay đã có thương hiệu; một Nguyễn Tử Quảng lập công ty cung ứng các sản phẩm công nghệ nhưng đều phải tự vật lộn, không ai hỗ trợ… Cũng theo GS Nguyễn Mại thì năm 2014 sẽ có triển vọng tươi sáng vì chúng ta đang có hướng nghiên cứu một đề án riêng về công nghiệp phụ trợ cho Samsung (năm 2013, tập đoàn này xuất khẩu đạt giá trị tới 20 tỉ USD). “Tinh thần kinh doanh nếu được kích hoạt sẽ phát huy rất tốt, chúng ta chỉ cần tạo cơ chế thuận lợi” – GS Mại nói.

Ông Mại cũng đề xuất cần có chính sách định hướng cho DN tư nhân, không để công ty nào cũng lao vào đầu tư, chứng khoán, bất động sản; có chính sách ưu đãi cho những người mới khởi nghiệp không phải đóng thuế cho đến khi có sản phẩm chính thức đưa ra thị trường để có doanh thu…

 Phải thay đổi ở tầm tư tưởng!

Dư địa để tạo ra một cuộc cải cách như Luật DN 1999 nay không còn. Muốn nền kinh tế có sức bật mới, cần có sự thay đổi ở tầm tư tưởng chứ không chỉ đơn thuần là chiến thuật, kỹ thuật như trước. Thị trường cần niềm tin, DN cần tín hiệu rõ ràng và có thể kiểm soát được từ các hành động, giải pháp của Chính phủ và các cơ quan thực thi.

Đổi mới thể chế đã được xác định là 1 trong 3 khâu đột phá. Nếu không đổi mới thì có thể chúng ta chỉ duy trì tăng trưởng trong khoảng 5%, thậm chí giảm xuống và tụt hậu xa hơn nữa so với các nước xung quanh. Trước hết, cần tập trung vào việc đổi mới thể chế kinh tế thị trường, làm cho thị trường vận hành tốt hơn, đầy đủ hơn. Thể chế có 3 trụ cột gồm “luật chơi”, “cách chơi” và “người chơi”. Chừng nào “luật chơi” và “cách chơi” vẫn còn bị chi phối bởi cơ chế “xin cho, ban phát”, dựa theo mối quan hệ chiều dọc từ trên xuống, từ dưới lên thì thị trường chưa thể vận hành lành mạnh. Do đó, cần đổi mới thể chế, thực hiện những cải cách mở rộng hoạt động, nâng cấp mức độ phát triển của thị trường và hội nhập quốc tế. Nhà nước phải tạo điều kiện và khuyến khích những giao dịch theo chiều ngang như cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên của thị trường giao dịch, cạnh tranh bình đẳng và hạn chế, xóa bỏ cơ chế “xin cho, ban phát”. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương thì còn nhiều dư địa để cải cách theo hướng này.

Đổi mới thể chế kinh tế thị trường, DNNN cũng sẽ bị áp đặt đầy đủ nguyên tắc và kỷ luật thị trường, đưa khu vực DN này vào đúng quỹ đạo trong mối quan hệ nhà nước, thị trường và DN. Khi đó, DNNN sẽ bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có động lực để đổi mới và không còn là lực cản đối với các khu vực kinh tế khác.

TS Nguyễn Đình Cung (Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương)

 

 

“Sức khỏe” kinh tế của Hà Nội năm 2013 qua bộ chỉ số niềm tin tiêu dùng

(NVT)- Ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan nghiên cứu khoa học nhà nước đầu tiên tiến hành nghiên cứu và khảo sát nhằm xây dựng bộ chỉ số niềm tin của người tiêu dùng. Đây là bộ chỉ số quan trọng đo lường “sức khỏe” của nền kinh tế hay đầu ra của nền kinh tế trong ngắn hạn thông qua đánh giá và nhận định của người dân…

Ngày 16 tháng 01 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia tổ chức họp báo công bố kết quả nghiên cứu và khảo sát của các dự án năm 2013. Trong đó có Dự án “Điều tra, khảo sát niềm tin tiêu dung tại Việt Nam”. Với dự án này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra được bộ công cụ khảo sát vận dụng được cả 2 công thức độc lập để tính bộ chỉ số niềm tin tiêu dùng của Hà Nội. Phân tích kết quả cho thấy, ý nghĩa bộ chỉ số niềm tin tiêu dùng dựa vào 2 công thức là khá khớp với nhau, mức độ khác biệt không đáng kể vì các chỉ số thu được phản ánh cùng mức độ lạc quan và bi quan của người dân.

Người dân Hà Nội không lạc quan về tình hình kinh tế (Thesaigontimes)

Gần nửa dân Hà Nội bi quan về kinh tế (Giaothongvantai)

Kêu gào khó khăn, dân Hà Nội vẫn thích mua ôtô, nhà đất (Vietnamnet)

IMG

Người Hà Nội lạc quan hơn về thu nhập, việc làm  (Vnexpress)

 Người Hà Nội lạc quan về kinh tế và thu nhập  (VTV Online)

Người tiêu dùng Hà Nội đang lạc quan hơn  (VOV Việt Nam)

Người tiêu dùng lạc quan hơn về tình hình kinh tế  (Muasamcong)

Người tiêu dùng Hà Nội đang lạc quan hơn  (Sài gòn GP)

Niềm tin tiêu dùng của người Hà Nội tăng mạnh  (Quân đội ND)

Người Thủ đô vẫn lạc quan về thu nhập và tình hình kinh tế  (VnMedia)

Người Hà Nội lạc quan về thu nhập  (Giaoduc)

Niềm tin tiêu dùng đã tăng trở lại trong 6 tháng cuối năm 2013 (Kinhtedubao)

Kết quả và ý nghĩa của bộ chỉ số niềm tin tiêu dùng của Hà Nội theo công thức có thang điểm từ 0 đến 200 như sau:

Chỉ số hiện tại (Chỉ số 6 tháng đầu năm 2013) là 85 điểm, nó phản ảnh sự bi quan nhiều của người dân Hà Nội về kinh tế của Thủ đô và tình trạng việc làm của họ.

Chỉ số kỳ vọng (Chỉ số 6 tháng cuối năm 2013) đạt 108 điểm: Có thế thấy, 6 tháng đầu năm người tiêu dùng Hà Nội khá bi quan về tình hình kinh tế của Thủ đô và việc làm của họ như chỉ số hiện tại đã phản ánh thì 6 tháng cuối năm 2013 đã có sự chuyển biến tích cực rõ nét. Đó là sự thay đổi từ tâm trạng bi quan sang tâm trạng lạc quan không chỉ về kinh tế của thành phố, mà còn về việc làm và thu nhập gia đình của họ.

Chỉ số niềm tin tiêu dùng tổng hợp của Hà Nội 6 tháng cuối năm 2013 đạt 99 điểm, tiến gần đến trạng thái trung bình 100 điểm (không tốt, không xấu) .Điều này cho thấy, sức khỏe kinh tế của Hà Nội còn yếu, nhưng nó đang trong xu hướng phục hồi.

Xét ở góc độ vĩ mô, chỉ số tổng hợp là chỉ số quan trọng nhất và có độ tin cậy nhất so với 2 chỉ số đã nêu trên. Thông thường, các cơ quan có chức năng hoạch định chính sách và quản lí nhà nước, cũng như các định chế tài chính, cộng đồng doanh nghiệp ở các nền kinh tế phát triển rất coi trọng chỉ số này…

Dân thậm chí không còn tiền để mua nữa

Chỉ tiêu tăng trưởng GDP 5,5% là “rất khó khăn”, trong khi khả năng lạm phát 6-7% là “rất dễ xảy ra”. Nhìn 2 chỉ tiêu biết ngay sức khỏe của nền kinh tế và trong khi doanh nghiệp thiếu vốn thì người dân chỉ thấy Ngân hàng Nhà nước chỉ lo bán vàng”- Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa, ông Lê Nam- phát biểu trong phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế sáng nay- 26.4.

Dân giảm ăn tiêu, DN liêu xiêu

Hạ lãi suất để cứu doanh nghiệp

Dân thậm chí không còn tiền để mua nữa

Giá cả có rẻ dân cũng không có tiền để mua, chứ không phải do kiềm chế lạm phát tốt. (Chợ Bến Thành. Ảnh minh họa)

Ngân hàng Nhà nước chỉ lo bán vàng

Báo cáo của Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận thực trạng nền kinh tế vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố có khả năng gây lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô; trong khi đó, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế vẫn chậm được triển khai; dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra và chênh lệch lớn so với tốc độ tăng huy động vốn, việc xử lý nợ xấu còn chậm nên những khó khăn về tiếp cận nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp chưa được cải thiện nhiều.

Phát biểu có tính chất phân tích, nguyên Thống đốc NHNN – ĐBQH Cao Sỹ Kiêm cho rằng nhìn nhận những “vấn đề rất mới”. “Vấn đề doanh nghiệp co hẹp sản xuất, phá sản thất nghiệp ngày càng tăng mà chưa có hướng vực dậy. Lòng tin của doanh nghiệp đối với kinh tế thị trường, điều hành, quản lý của ta có vấn đề. Tình trạng chán nản, buông xuôi, thúc thủ trong doanh nghiệp đã có biểu hiện, ý chí vươn lên rất hạn chế”.

Ông Kiêm nhìn nhận tình trạng này là do “những giải pháp Chính phủ đề ra đúng, trúng, kịp thời nhưng lại triển khai chậm, lối ra càng bàn lại càng khó khăn hơn”. Nguyên thống đốc lên tiếng cảnh báo về tình trạng nền kinh tế “từ 2010 đến nay thì ngày càng đi xuống”.

Có ít nhất 4 ý kiến nói về khó khăn của doanh nghiệp. ĐBQH Lạng Sơn Nguyễn Thế Tuy nói, doanh nghiệp khó khăn do “chính sách chỉ bảo hộ ngân hàng chứ chưa bảo vệ doanh nghiệp”.

ĐBQH Bùi Đức Thụ thì đặt câu hỏi trước tình trạng “dư nợ huy động tang, nhưng cho vay gần như không tăng”. “Tiền chảy đi đâu, có phải vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của các ngân hàng lớn nên thà giữ tiền chứ không hạ lãi suất cho vay, vì như thế vẫn được lợi hơn?”- ông Thụ đặt câu hỏi.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Mai Xuân Hùng thậm chí thẳng thắn “Vốn cho doanh nghiệp thì bế tắc, cho vay gần như không tăng mà huy động vẫn tăng, vậy vốn đi đâu, hay lấy vốn của dân đi mua vàng?”.

Đỉnh điểm là phát biểu của ĐBQH Lê Nam khi ông phát biểu, trong khi “doanh nghiệp thiếu vốn” thì “dân chỉ thấy hoạt động nổi bật của Ngân hàng Nhà nước là lo bán vàng”. Ông kêu gọi: “Đừng cứu ngân hàng vì ông ấy đang SIDA rồi, nên lo bảo vệ lợi ích của dân”.

Dân không còn tiền để mua

Phần nhiều ý kiến thảo luận tại phiên họp cho rằng, việc triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh còn chậm trễ: “Có rất nhiều chủ trương, giải pháp, rất nhiều kế hoạch, nghị quyết nhưng dường như chúng ta chỉ dừng ở đó thôi. Còn triển khai thực tiễn đi vào cuộc sống thì nó xa xôi và vẫn là câu hỏi lớn. Ví dụ như bây giờ người dân và cán bộ ở cơ sở đều biết là các nội dung của tái cấu trúc nền kinh tế như thế nào, doanh nghiệp nhà nước là ai, ngân hàng là ai, đầu tư thế nào nghị quyết nói rõ rồi, nhưng chưa thấy làm gì cả.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban các Vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi sau phân tích tình hình bất cập về tiền lương, chính sách an sinh xã hội, đã đưa ra kiến nghị: Chính phủ cần xem xét lại hệ thống chính sách giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, 36 chương trình mục tiêu quốc gia hầu hết đổ vào nông thôn nhưng không biết triển khai thế nào, để làm gì… Theo đại biểu, trái phiếu chính phủ đầu tư cho y tế 23.000 tỉ- chiếm 27% tổng trái phiếu chính phủ của cả nước, nhưng hầu hết đều để dở dang, đình hoãn do NQ 11. Nhiều bệnh viện xây xong không có tiền mua thiết bị để hoạt động, trong khi 80% bệnh nhân vượt tuyến, trái tuyến gây quá tải bệnh viện TƯ.

“Chỉ số CPI không thể tăng được vì cung lớn hơn cầu, giá cả có rẻ dân cũng không có tiền để mua chứ không phải do kiềm chế lạm phát tốt”- ông Lợi nói.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

(NVT)- Tại cuộc họp lần thứ nhất của ban chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức ngày 25/1/2013, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cho rằng “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Cũng trong một cuộc họp báo mới đây, Bộ trưởng Vũ Đức Đam đã khẳng định “ngay trong văn phòng chính phủ cũng có chuyên viên làm cả ngày nghỉ mà không hết việc trong khi có người lại rảnh rỗi”. Trên các phương tiện thông tin những ngày qua cũng đã đưa ra những con số đáng báo động về tỷ lệ công chức vô dụng, về tỷ lệ thu nhập ngoài lương của cán bộ, công chức có được từ phong bì họp,… Rõ ràng, đây là sự cảnh báo đối với tiến trình thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đến năm 2020 mà Chính phủ đã đề ra.

Báo ĐT Giáo dục Việt Nam : 3 nguyên nhân khiến nhiều cán bộ, công chức nhà nước ‘vô dụng’

Vậy, nguyên nhân gốc rễ cán bộ, công chức vô dụng là do đâu? Chúng ta cần câu trả lời thích đáng cho thực trạng này. Qua tìm hiểu, bài viết này xin góp phần chỉ ra những căn nguyên dẫn đến hiện tượng cán bộ, công chức vô dụng như sau:

Thứ nhất là do chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học ở nước ta còn thấp, cũng như công tác tuyển dụng cán bộ, công chức ít nhiều còn chưa được khách quan. Và cả 2 vấn đề này đều tạo ra những tiêu cực nhất định.

Ảnh minh họa (Nguồn: Vietnamnet.vn)

Một mặt là do thực trạng thương mại hóa trong quan hệ thầy, cô với sinh viên ở một số trường đại học không phải là không còn tồn tại, mà nó còn có xu hướng gia tăng. Đây chính là mối quan hệ mua bán không lành mạnh làm suy giảm chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, làm suy thoái đạo đức nghề trồng người và là mầm mống cho việc hình thành một số cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ “giấy”,… Trong các bậc giáo dục và đào tạo này thì đầu vào còn qua thi tuyển khó, nhưng đầu ra lại dễ (có thể nói vào được, về cơ bản sẽ ra được. Điều này ngược hẳn với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến vì đầu vào đại học và sau đại họckhông phải qua thi tuyển, nhưng đầu ra lại khó bởi họ chú trọng nhiều đến chất lượng vốn kiến thức cho sinh viên khi ra trường làm việc để đáp ứng được nhu cầu thực tiễn),…

Tình trạng thuê viết tiểu luận, khóa luận, đồ án tốt nghiệp, luận văn cao học hay “đạo văn” các nghiên cứu có trước của một số sinh viên vẫn đang diễn ra (trong một số cửa hàng photocopy gần một số trường đại học ở Hà Nội diễn ra tình trạng bán khóa luận, luận văn cao học khá phổ biến với giá rẻ hoặc có thể tìm kiếm bằng các từ khóa ‘nhận viết tiểu luận, khóa luận, luận văn’ trên google thì cho thấy dịch vụ này đã xuất hiện từ Bắc đến Nam),…

Nội dung, chất lượng giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học còn chưa đáp ứng được với nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thực tiễn phát triển, trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm của một bộ phận giảng viên còn hạn chế (tình trạng khi được tuyển dụng, các cơ quan, đơn vị phải đào tạo lại cán bộ mà hiệu quả công việc vẫn chẳng cải thiện là bao và tình trạng trong lớp học, giảng viên giảng ít đọc nhiều cho sinh viên chép là 1 minh chứng cho điều này). Đây cũng chính là một trong những căn nguyên cơ bản làm cho sinh viên khi ra trường không đáp ứng được với các bài thi khi cơ quan nhà nước tuyển dụng và nếu được tuyển dụng cũng không được khách quan và do đó khó có thể thực thi hiệu quả công việc được giao.

Chấn chỉnh khâu tuyển dụng cán bộ

Cơ quan Nhà nước tuyển dụng, sử dụng lao động theo tiêu chuẩn nào thì   Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết rồi: Thứ nhất “hậu duệ” (con ông   cháu cha), thứ hai “quan hệ”, thứ ba “tiền tệ”, cuối bảng mới là “trí tuệ”.   Theo công thức này, chắc chắn không tuyển được người giỏi, cũng không kích thích được sinh viên học cho giỏi. Vì thế, vấn đề ở đây là phải làm sao chấn   chỉnh được chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ (Nguồn: Báo nld.com.vn  ngày 13/4/2013 trong bài: Thất nghiệp nhiều quá: “Cái chết” được báo trước!

Mặt khác là thực trạng tiêu cực trong công tác tuyển dụng: tình trạng thiên vị các mối quan hệ thân quen cũng có xu hướng gia tăng tạo ra hoạt động thi tuyển công chức bất cập. Điều này đang tạo ra tâm lí nghi ngờ cho các cựu sinh viên có năng lực mới ra trường khi đi tìm việc trong cơ quan nhà nước vì cho rằng một số cơ quan nhà nước thông báo tuyển dụng chỉ là hình thức, có nộp hồ sơ và tham gia thi tuyển thì phần lớn vẫn bị trượt, do kết quả trúng tuyển có thể đã được “bỏ túi” trước.

Với thực trạng về giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học cũng như công tác tuyển dụng như nêu ở trên thì hoàn toàn có thể tạo ra hiệu ứng cán bộ, công chức cấp trên dung túng cán bộ, công chức cấp dưới và cán bộ, công chức cấp dưới lè phè không chú tâm trong công việc. Vì cả 2 loại cấp bậc cán bộ, công chức này đã mắc vào mối liên hệ phụ thuộc thân quen hoặc thông qua mua bán thì hiển nhiên sẽ tạo ra những cán bộ, công chức vô dụng hoặc làm việc kém hiệu quả.

 Thứ hai, một bộ phận cán bộ,công chức có năng lực và tâm huyết không được trọng dụng thì cũng sẽ là vô dụng, trong khi số cán bộ, công chức yếu kém năng lực không bị sa thải hoặc bố trí lại thì cũng đã và đang là vô dụng. Đây vừa là sự lãng phí sức lao động quý giá, vừa làm phình to nhân sự trong bộ máy nhà nước và làm thất thoát quỹ tiền lương của nhà nước bất hợp lý.

Không ái khác, cán bộ, công chức là chủ thể làm trong sạch, vững mạnh và điều khiển sự phát triển của bộ máy nhà nước nếu được tuyển dụng và sử dụng hợp lý. Vì trong mỗi đơn vị, cơ quan nhà nước hoạt động hiệu quả hay không, trong sạch, vững mạnh hay không, phục vụ tân tụy nhân dân hay không chính là mô hình, tác phong, chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức của đơn vị, cơ quan đó nếu như người lãnh đạo thực hiện công tác quản lí và điều hành các hoạt động của đơn vị mình một cách khoa học, biết dựa vào nguồn nhân lực và năng lực của cấp dưới trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định.

Tuy nhiên, quan niệm này không phải người lãnh đạo nào cũng có thể vận dụng được vì nhiều lí do khách quan, chủ quan khác nhau và cái tâm của người lãnh đạo đối với Đảng và Nhà nước ta. Ở các đơn vị, cơ quan mà người lãnh đạo không có khả năng hoặc không vận dụng quan niệm như đã nêu trên thì sức lao động quý giá của cán bộ, công chức có năng lực dễ bị triệt tiêu dẫn đến tình trạng người kém năng lực được quy hoạch để quản lí người có năng lực, và tiếp đến là người có năng lực đành phải chọn cách ra đi. Trong trường hợp này, cơ quan, đơn vị đó đã tạo ra những những cán bộ, công chức kém năng lực chiếm số đông để tạo lực cản cho người có năng lực muốn hiến kế chiếm số ít và từ đó dẫn đến việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan không được hiệu quả toàn diện. Điều này trái ngược hẳn với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Bởi lãnh đạo mỗi doanh nghiệp trong khu vực này luôn coi thời gian, sức lao động của người lao động trong doanh nghiệp mình là lợi nhuận và là sự phát triển của doanh nghiệp vì nếu không coi trọng 2 yếu tố đó, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại.

Thứ ba, lương thấp làm cho cán bộ, công chức thờ ơ với công việc: Thờ ơ với công việc cũng biểu hiện sự vô dụng- tác động xấu đến quan hệ giữa người dân với người công bộc.

– Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề về xã hội cho biết, hiện lương khối hành chính sự nghiệp chỉ bằng 70% khu vực doanh nghiệp. Phó vụ trưởng Vụ Lao động – Tiền lương, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, ông Lê Xuân Thành cũng thừa nhận, hiện lương ở khu vực Nhà nước, mới đảm bảo được 50% mức sống tối thiểu của công chức (Nguồn: Báo vnexpress.net ngày 12/4/2013 trong bài“Lương tối thiểu chưa bằng nửa mức sống”).

– Nhiều chuyên gia cho rằng, hiện nay, có nhiều công chức đang giàu lên nhanh chóng, có ô tô xịn, biệt thự, đầy đủ tiện nghi cao cấp mà với mức lương của họ không thể nào có được. Đó chính là những khoản thu nhập ngoài lương, những đặc lợi (Nguồn: Báo tienphong.vn ngày 20/9/2010 trong bài “Nhận diện tham nhũng ngoài lương”) 

 Về bản chất, cán bộ, công chức là những người làm công ăn lương thì tối thiểu họ phải sống được bằng lương tối thiểu. Tuy nhiên, nếu lương tối thiểu không đủ trang trải cho mức sống tối thiểu thì buộc họ phải tự tìm các nguồn thu khác để tồn tại bằng mọi phương diện. Đây cũng là phản ứng tự nhiên của sự tồn tại.

Kể từ năm 1993 cho đến nay, nước ta đa có 12 lần tăng lương tối thiểu, với tốc độ tăng bình quân từ 16–20% hàng năm trong nhiều năm, song mức lương tối thiểu vẫn không đảm bảo cho mức sống tối thiểu của cán bộ, công chức. Bởi vì khi thông tin lương tăng thì giá cả một số mặt hàng thiết yếu lại tăng trước và tăng nhanh hơn cùng với các chi phí dịch vụ xã hội ngày càng đắt đỏ trong khi chất lượng dịch vụ lại không tương ứng.

Có thể nói, cả 03 nguyên nhân nêu trên đều có thể nhập vai là “cha đẻ” của những tiêu cực tạo ra số cán bộ, công chức vô dụng hiện nay và là nhân tố có thể góp phần tạo ra hiệu ứng “Người có năng lực thì không được trọng dụng nên đành phải bỏ cơ quan nhà nước để ra ngoài làm. Người không có năng lực thì cố bám trụ nhà nước vì không thể kiếm được việc làm ở khu vực ngoài nhà nước. Nghịch lý này mà lan rộng ra thì hệ quả là số cán bộ, công chức vô dụng sẽ không thể bị đầy lùi”.

(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả)

 

50% công chức vô dụng, phần lớn có thu nhập ngoài lương

Chưa có nghiên cứu nào cụ thể về thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhưng qua nghiên cứu, nhận thấy 79% CBCC có thu nhập ngoài lương và các khoản phụ cấp theo lương.

79% cán bộ, công chức có thu nhập ngoài lương

Năm 2012, Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Thế giới khảo sát gần 2.000 cán bộ, công chức (CBCC) ở 10 địa phương và 5 bộ, ngành.

Kết quả cho thấy, 79% CBCC trả lời có thu nhập ngoài lương và các khoản phụ cấp theo lương, 20% không có và 1% không trả lời.
Trong số người có thu nhập ngoài lương, hơn 50% trả lời đó là tiền bồi dưỡng từ các cuộc họp; hơn 60% có nguồn thu do tiết kiệm được các khoản chi theo định mức khoán; hơn 5% được chia từ các khoản hoa hồng hoặc quỹ riêng của đơn vị; gần 5% có nguồn thu ngoài lương từ khoản biếu, tặng; 40% có nguồn thu khác.

79% CBCC có thu nhập ngoài lương
79% CBCC có thu nhập ngoài lương

Về mức thu nhập ngoài lương, kết quả khảo sát cho thấy, 82,7% số người có khoản thu nhập ngoài thấp hơn 50% lương; 11,1% số người có thu nhập ngoài bằng khoảng 50% đến 100% tiền lương; 2,1% người có thu nhập ngoài cao hơn lương nhưng tối đa không quá 5 lần tiền lương; 0,2% số người thu nhập ngoài bằng 5 – 10 lần tiền lương. Số người có thu nhập ngoài cao hơn 10 lần tiền lương chiếm 0,2%. Có 3,6% số người không trả lời khi được hỏi về mức thu nhập ngoài lương.

Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào cụ thể về thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhưng qua nghiên cứu, nhận thấy thu nhập ngoài lương của người có chức vụ, quyền hạn tăng và đến từ nhiều nguồn. Có cả những khoản thu nhập nhạy cảm, dễ liên quan đến tham nhũng…

Theo nhóm nghiên cứu, việc kiểm soát thu nhập của CBCC hiện còn nhiều bất cập, các biện pháp đang thực hiện thiếu sự gắn kết, thiếu tính đồng bộ. Mặc dù Nhà nước đã có một số quy định cấm sử dụng công quỹ để biếu xén, quy định về chi tiêu hội nghị, tiếp khách, mua xe ô tô, đấu thầu, công khai tài chính… nhưng còn thiếu biện pháp kiểm tra xử lý; nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa thực hiện nghiêm túc…

Nhóm nghiên cứu cho rằng, cùng với sự gia tăng tiền lương, thu nhập, nhất thiết phải có cơ chế kiểm soát thích hợp đối với thu nhập của xã hội nói chung, đối với người có chức vụ, quyền hạn nói riêng. Cơ chế kiểm soát thu nhập phải được thể chế hóa bằng pháp luật và có chế tài xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm. Trong đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 10 phương thức để kiểm soát.

50% công chức vô dụng

Thời gian gần đây, báo chí liên tục đưa những nhận định của một số người có uy tín về chất lượng công chức. Đặc biệt từ sau ý kiến “chạy công chức 100 triệu” của ông Trương Trọng Dực – Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy TP.Hà Nội – Tuy nhiên, kết quả kiểm tra của Sở Nội vụ Hà Nội lại cho biết “chưa tìm ra dấu hiệu dùng tiền chạy thi công chức”, dù có phát hiện những sai phạm nhưng chỉ do “nhờ vả” trong quá trình thi cử.
Tiếp theo đó, đánh giá về năng lực công chức của đơn vị mình, ông Trương Trọng Dực cũng cho biết, có khoảng 30% số công chức làm việc tốt, 35% số công chức viên chức khá và trung bình; số còn lại chưa yên tâm khi giao công việc. Ông Dực cũng cho rằng, đây là “tồn tại lịch sử” khi có đến 20 – 30% số công chức đang hưởng lương nhà nước nhưng không đáp ứng được công việc nhà nước giao.

Không chỉ công bố của riêng đơn vị trên, tại phiên họp thứ sáu của UBTVQH khóa XIII diễn ra ngày 26/3, đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị), dẫn ra kết quả điều tra tại một số tỉnh phía nam, phát hiện hơn 200 cán bộ ở cơ sở thuê người học hộ, thi hộ và kết quả của một khảo sát chưa đầy đủ cho thấy chỉ có khoảng 30% số cán bộ sau tuyển dụng làm được việc, 30% phải “cầm tay chỉ việc”, hơn 30% còn lại “cầm tay chỉ việc” vẫn không biết cách làm. Trước những con số như vậy, cho thấy bộ phận không nhỏ này chiếm đến hơn 30%. Nhà nước phải bỏ tiền ra nuôi 30% trên tổng số 22 triệu người hưởng lương ngân sách. Tương đương 6.600.000 người.

Phó trưởng ban Dân vận TƯ Nguyễn Thế Trung đánh giá, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước thì đến nay vẫn chưa ai thống kê được tỷ lệ bao nhiêu người làm việc thực sự, có hiệu quả, bao nhiêu nằm ở bộ phận “chỉ giữ chỗ ăn lương”, “sáng cắp ô đi tối cắp ô về”.

Ông Trung cho biết, có người lạc quan đánh giá tỷ lệ cán bộ làm việc thực sự khoảng 70-80% nhưng người bi quan hơn cho rằng tỷ lệ người làm “gánh” cả phần người ngồi chơi là 50-50.

Ngay sau đó, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu điều tra hiện tượng trong bộ máy có tới 30% số công chức làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi tối cắp về, không mang lại bất cứ hiệu quả công việc nào.

Sau đó, ngày 26/3/2011, tại phiên họp của Thường vụ Quốc hội, thông tin này đã được đưa ra chất vấn về vấn đề tuyển dụng công chức đối với Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Ông  Hoàng Quốc Long, Phó vụ trưởng công chức viên chức (Bộ Nội vụ) cho rằng, con số này cần phải bàn thêm chứ không nên “võ đoán”. Theo ông Long, “một cơ quan cũng như một cỗ xe, có những bộ phận các đồng chí tưởng không quan trọng nhưng nó là cấu thành của một cỗ máy. Nếu cắt 30% thì cỗ máy không hoạt động được”.

Như vậy, cho đến giờ phút này, chuyện “chạy công chức không dưới 100 triệu” hay “30% công chức sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” vẫn chỉ là thông tin võ đoán và cảm tính, bởi chưa có ai bị “vạch mặt chỉ tên”.

10 năm cải cách hành chính thất bại

Tại hội nghị giao ban giữa lãnh đạo Hà Nội với các sở ngành, quận huyện tuần qua về công tác cải cách hành chính và mổ xẻ chuyện Hà Nội tụt 15 bậc về chỉ số năng lực cạnh tranh câu chuyện mà chính ông Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị kể lại đã chứng minh một thực tế đau lòng: chất lượng đội ngũ công chức đang đi xuống thê thảm hay họ đang vô trách nhiệm quá mức.

Ông Phạm Quang Nghị kể câu chuyện điển hình của sự ì ạch, thiếu trách nhiệm với công việc, đó là để thảo một lá thư cảm ơn nước bạn Lào nhưng hai cơ quan là Văn phòng UBND TP và Sở Ngoại vụ phải làm suốt… 29 ngày mới xong!

Trao đổi với báo Đất Việt,  PGS.TS Nguyễn Hữu Tri – Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, nguyên là Viện trưởng Viện Khoa học hành chính, Trưởng khoa Quản lý hành chính, Học viện hành chính Quốc gia cho biết, nếu chỉ để soạn một bức thư cảm ơn mà mất tới 29 ngày thì cần phải xem lại ở tất cả các khâu. Tuy nhiên, điều này một mặt cũng thể hiện vấn đề năng lực kỹ năng giải quyết quá yếu. Nếu không nâng cao chất lượng sẽ không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính.

TS Tri còn nêu một thực tế, tình trạng bộ máy của chúng ta cứ thấp dần đều. Lý do là vì tâm lý một ông trưởng phòng sẽ không bao giờ chọn một ông phó giỏi hơn mình. Tương tự, ông phó phòng lại chọn người dưới quyền kém hơn mình nữa. Như vậy nếu lên sơ đồ thì sẽ thấy chất lượng cứ giảm dần. ‘Cứ tình trạng này thì chỉ số năng lực cạnh tranh tụt còn là nhẹ’, TS Tri thẳng thắn.

PGS.TS Nguyễn Hữu Tri nhận định: ‘Chúng ta đang nỗ lực cải cách hành chính nhưng kết quả của 10 năm qua coi như thất bại và công cuộc đào tạo, cải cách chất lượng công chức đang bị lệch mục tiêu’.

Xuân Tùng (Tổng hợp)

(Theo datviet.vn)

Doanh nghiệp phá sản “cả làng” vạ lây

Theo số liệu của các cơ quan thống kê hai năm 2011-2012 có tới trên 100.000 doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng hoạt động. Số liệu của một số chuyên gia là trên 200.000 doanh nghiệp rơi vào tình trạng đó với gần một triệu người mất việc làm. Theo con số của Chính phủ công bố trong hai tháng đầu năm có 8.600 doanh nghiệp phá sản hoặc ngừng hoạt động. Con số đó chỉ là phần nổi của tảng băng trôi với phần chìm là hàng trăm nghìn doanh nghiệp danh sống mà thực chết, đang chờ phá sản. Vòng quay của sự phá sản doanh nghiệp sẽ còn đè nát nhiều doanh nghiệp nữa.

Ảnh Internet

Tương lai khó của các doanh nhgiệp

Theo các nhà kinh doanh bán lẻ, sức mua xã hội đang giảm mạnh do thất nghiệp nhiều, do doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thu nhập người lao động xuống thấp. Sức mua thấp đang đẩy các siêu thị, các nhà kinh doanh bán lẻ xuống vực phá sản. Lại sẽ có những làn sóng phá sản mới, chưa kể việc tái cấu trúc các tập đoàn nhà nước sẽ cho phá sản vài chục công ty, việc thoái vốn của các tập đoàn cũng đẩy hàng loạt công ty vào khó khăn phải giảm nhân công, giảm hoạt động. Những cục máu đông như nợ xấu, bất động sản (BĐS) đóng băng, hàng tồn kho tăng cao, lãi suất cho vay vẫn cao chưa thể giải quyết ngay. Khủng hoảng nợ công châu Âu, sự sụt giảm kinh tế của Trung Quốc, kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm, xung đột ở châu Phi, Tây Nam châu Á còn tạo thêm những cửa ải mới cho xuất khẩu…Tất cả những khó khăn đó báo trước một tương lai khó khăn cho các doanh nghiệp năm 2013.

Lao động trông chờ vào bảo hiểm thất nghiệp

Cái sự phá sản doanh nghiệp và thất nghiệp đang tác động đến từng gia đình, xóm làng, ngõ phố. Ở xã Yên Lạc (Như Thanh, Thanh Hóa) trước đây có hàng trăm thanh niên ra Hà Nội làm thuê, năm nay, nghỉ Tết đã lâu, không ai nói chuyện ra Hà Nội nữa. Đến người Hà Nội còn không có việc làm thì dân nông thôn còn mong đợi gì. Việc các doanh nghiệp phá sản hàng loạt đã đẩy hàng vạn công nhân vào cảnh thất nghiệp.
Tại phòng đăng ký thất nghiệp (Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội) những ngày sau Tết không quá đông đúc. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Kim Loan, Trưởng phòng Bảo hiểm thất nghiệp thì điều đó chưa hẳn phản ánh con số lao động thất nghiệp giảm đi. Nguyên nhân chính, theo bà là do Nghị định mới của Chính phủ về BHTN có hiệu lực từ ngày 15-1-2013 cho phép kéo dài thời gian đăng ký BHTN kể từ khi chấm dứt hợp đồng lao động lên 3 tháng, thay vì 7 ngày như trước kia nên có thể nhiều người chưa vội đăng ký. Những tháng cuối năm âm lịch, số người đến đăng ký BHTB khá dồn dập, có những tháng Trung tâm phải tiếp nhận mấy nghìn người. Một số doanh nghiệp đã cho công nhân nghỉ việc hàng loạt.

Theo thống kê, năm 2012 riêng Hà Nội có trên 20.500 người nộp hồ sơ hưởng BHTN, và năm 2013 tính đến ngày 7-3 đã có gần 3.000 người. Sau gần 4 năm triển khai, đến nay, cả nước có khoảng 8 triệu người tham gia BHTN, riêng Hà Nội là gần 45 nghìn người với gần 40 nghìn người đã nộp hồ sơ hưởng BHTN. Số người đăng ký BHTN gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây, một phần do tình hình kinh tế khó khăn, số người mất việc nhiều.

Tuy nhiên, thực tế, có nhiều người mất việc làm nhưng không được nhận trợ cấp thất nghiệp vì DN đã giải thể, nợ đọng không đóng bảo hiểm cho người lao động, gây thiệt thòi cho không ít người lao động. Báo cáo mới đây của thanh tra liên ngành về pháp luật lao động của thành phố Hà Nội (gồm Thanh tra Nhà nước, ngành LĐTB&XH và BHXH) cho thấy, kiểm tra 33 DN trên địa bàn, Đoàn thanh tra thành phố đã phát hiện, xử lý các trường hợp sai phạm như: sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái luật, vi phạm chế độ tiền lương, kê khai trích nộp BHXH không đúng để hưởng chế độ chính sách. Mặt khác, một số DN còn không đóng BHXH hoặc không thực hiện chế độ BHXH cho người lao động.

Theo lãnh đạo Sở LĐTB&XH TP Hà Nội, những DN có vi phạm thường biện minh cho hành vi chậm nộp BHXH, BHYT, BHTN là khó khăn. Nhưng thực tế, lãi nợ BHXH chỉ bằng lãi suất ngân hàng, do vậy DN sẽ chiếm dụng tiền BHXH để quay vòng kinh doanh và chấp nhận chịu phạt. Và như vậy, quyền lợi người lao động sẽ bị thiệt hại theo dây chuyền.

Mặt khác, có một thực tế là chính sách BHTN hiện nay vẫn chưa hướng đến nhóm đối tượng yếu thế khi hạn chế một số đối tượng tham gia như DN dưới 10 lao động hay những lao động có hợp đồng lao động dưới 12 tháng. Trên thực tế, đây mới là nhóm đối tượng dễ chịu tác động của khủng hoảng kinh tế, DN dễ bị phá sản nhất, và lao động dễ bị mất việc làm nhất thì lại không được đóng BHTN. Về vấn đề này, Bộ LĐ-TB&XH đang xây dựng Luật việc làm, trong đó đưa ra khái niệm bảo hiểm việc làm. Theo ông Vũ Trung Chính, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội bảo hiểm việc làm sẽ mở rộng đối tượng bảo hiểm, bao gồm những đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp như hiện hành, và mở rộng thêm kể cả cho những đối tượng chủ sử dụng lao động dưới 10 lao động hoặc có hỗ trợ cho doanh nghiệp duy trì sản xuất khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, hỗ trợ cho doanh nghiệp đó có kinh phí đào tạo cho lao động của họ chuyển đổi sang ngành sản xuất kinh doanh mới…

Lừa xuất khẩu lao động nở rộ

Trong tình trạng hàng loạt các doanh nghiệp, công ty phá sản, người lao động thiếu việc làm không ít những người có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp lại chọn một giải pháp mong đổi đời là đi XKLĐ qua con đường môi giới không chính thống. Đây là cơ hội để kẻ xấu lợi dụng lòng tin của người có nhu cầu đi XKLĐ để lừa gạt, chiếm đoạt tài sản. Tình trạng lừa xuất khẩu lao động lại bắt đầu nở rộ. Chiều 6-3-2013, Công an tỉnh Khánh Hòa đã bắt tạm giam 2 đối tượng Nguyễn Đức Lễ (45 tuổi, trú xã Phước Đồng, TP. Nha Trang) và Nguyễn Tuấn Anh (41 tuổi, trú thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) để điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Nguyễn Đức Lễ đã nhận tiền 904 triệu đồng của 23 hộ dân với lời hứa để đưa đi xuất khẩu lao động ở Cộng hòa Ireland, nhưng không thực hiện.  Trước đó, chiều ngày 27-2, CQĐT- CAQ Long Biên (Hà Nội) đã khởi tố vụ án và đang tiến hành các thủ tục cần thiết để ra quyết định truy nã đối với Giáp Thị Lệ (SN 1981, trú tại tổ 4 P.Giang Biên, Q.Long Biên, nguyên nhân viên Công ty CP Hợp tác Lao động và thương mại) về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong vòng 7 tháng sau khi được tiếp nhận làm việc, Lệ đã tự giới thiệu với nhiều người cô ta là giám đốc và nhận giải quyết mọi trường hợp có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Thổ Nhĩ Kỳ, đảo Síp, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)…Và kết quả là trước khi bị bắt, Lệ đã kịp lừa, “kiếm” hàng trăm triệu đồng của nhiều người lao động.

Theo Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niện (CSAGA) thì hầu hết người đi XKLĐ đều có trình độ thấp (54,7% học PTCS, 33,7% học PTTH), hơn 50% là nông dân và buôn bán nhỏ trước khi đi XKLĐ. Trình độ thấp nên những đối tượng này trở thành nạn nhân của môi giới và “cò”. Điều đáng lo ngại phần lớn thủ tục, giấy tờ không minh bạch, tiền thực nộp và biên nhận. Những người đi xuất khẩu lao động cũng  không biết mình là nạn nhân của bóc lột lao động, lừa đảo và buôn bán người. Chỉ sau khi đến nước bạn, bị bóc lột, bị phá vỡ hợp đồng lao động mới hay mình đã bị lừa đảo. Trong khi đó, người lao động đi theo đường chính ngạch thì gần như không có chuyện bị bóc lột, hay lừa đảo.

Không chỉ lừa đảo qua tay môi giới, cò mồi mà thời gian gần đây, biết được nhu cầu đi xuất khẩu lao động do số   người trong nước thất nghiệp, thiếu việc làm ngày càng tăng, trên các trang mạng như vatgia.com, webraovat.vn, raovatngay.com… liên tục đăng tin tuyển dụng lao động sang các thị trường Qatar, Algeria, Angola với số lượng không hạn chế, mức lương cao và không cần các điều kiện như có sức khỏe, ngoại ngữ… Tuy nhiên, theo ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết: Hiện nay, 172 doanh nghiệp có giấy phép đa phần là đưa lao động đi các nước như Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Trung Đông và một số quốc gia khác. Còn hai nước ở châu Phi là Angola, Algeria là không có. Do vậy, đề nghị người lao động cần tìm hiểu thật kỹ thông tin. Về thông tin liên quan đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài, Cục Quản lý lao động ngoài nước có hai trang web đó là: http://dolab.gov.vn và trang web của Trung tâm hỗ trợ Lao động ngoài nước là http://hotrolaodongngoainuoc.org/ hoặc http://laodongdicu.gov.vn. Tất cả thông tin liên quan đến thị trường, hợp đồng xuất khẩu lao động được thẩm định, những điều kiện cần thiết như sức khỏe, ngoại ngữ, bổ túc kỹ năng nghề, giáo dục đào tạo, chi phí, danh sách các công ty xuất khẩu lao động, các hợp đồng đăng ký tại Cục. Đây là thông tin có thể tham khảo được. Có thể gọi điện tới đường dây nóng của cục là 04 38249517, số máy lẻ 511, 512, 513 để được giải đáp. Trước những thông tin lừa đảo, đề nghị người lao động gửi thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để được xử lý theo quy định của Nhà nước.

Ảnh Internet

Các doanh nghiệp cần gì?

Mặc dù Chính phủ đã có nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đề ra những giải pháp cho sự phát triển kinh tế, nhưng những chính sách đó đi vào đời sống, để các doanh nghiệp có thể phát triển sản xuất kinh doanh tạo thêm sản phẩm xã hội, tăng thu nhập cho người lao động vẫn là một câu hỏi.
Theo ông Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp hoàn toàn đồng thuận với các giải pháp kinh tế của Chính phủ, đặc biệt là chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp. Nhưng các doanh nghiệp cần Chính phủ sớm đưa các giải pháp đó vào đời sống bằng các văn bản hướng dẫn có tính pháp lý, nâng cao năng lực quản trị, điều hành chính sách của Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là ngân hàng, tiền tệ. Kiểm soát tốt việc thực thi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Không thể điều hành tốt nếu chỉ dựa vào các báo cáo làm đẹp, báo cáo lấy thành tích.

Dư luận trong ngành tài chính đã không thể tin vào con số tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng là 8% đến cuối năm 2012, các chuyên gia trong nước mà cả các chuyên gia nước ngoài cũng có đánh giá tương tự. Ấy vậy mà đến cuối tháng 2-2013 con số tỷ lệ nợ xấu đã lại giảm xuống 6% trong lúc kinh tế chưa hề chuyển biến lớn, thị trường bất động sản còn đông cứng hơn…Dư luận đang nói tới những thủ pháp “làm đẹp” nợ xấu trong hoàn cảnh các ngân hàng đang thừa vốn. Nếu những thống kê không chính xác làm sao có thể điều hành tốt được. Trong khi đó Bộ Xây dựng công bố có đến 85.000 tỷ nợ xấu trong ngành BĐS và có tới 60% dư nợ có tài sản thế chấp là BĐS, vòng kim cô đang siết mỗi ngày một chặt của hệ thống ngân hàng. Nâng cao chất lượng quản trị, điều hành còn có nghĩa là nâng cao chất lượng cán bộ. Cần loại sớm ra khỏi đội ngũ công chức các cán bộ có biểu hiện làm khó doanh nghiệp, lãnh cảm với những khó khăn của doanh nghiệp, những cán bộ đã và đang nhận những quyền lợi của doanh nghiệp thuộc diện mình quản lý. Ngay bây giờ có thể tổ chức điều tra những cán bộ và người nhà của họ đã mua bao nhiêu suất nhà đất ngoại giao tại các dự án, bao nhiêu suất ưu tiên về giá, bao nhiêu quà tặng là nhà đất. Đặc biệt các quan chức chính quyền, các sở ban ngành liên quan đến BĐS. Dư luận tin là sẽ có kết quả rất bất ngờ.

Một điều quan trọng nữa là các doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động tốt trong một môi trường kinh doanh tốt, minh bạch và công bằng với các doanh nghiệp. Cần phải sớm tái cấu trúc các doanh nghiệp Nhà nước, giảm độc quyền của các tập đoàn Nhà nước. Không nên có một chuẩn mực kép, doanh nghiệp Nhà nước có nhiều ưu đãi hơn doanh nghiệp khác nhất là điều kiện tiếp cận các nguồn vốn và thuế cũng như các điều kiện về đất đai.

Hai cục máu đông lớn nhất của nền kinh tế là nợ xấu và trì trệ thị trường BĐS các doanh nghiệp cũng hiểu rất rõ là không thể giải quyết ngay được. Nhưng vấn đề vốn bao gồm lãi suất và điều kiện tiếp cận vốn đang được các doanh nghiệp mong muốn Chính phủ sớm có những hành động khai thông.

Nhưng nỗi lo lắng nhất của các doanh nghiệp không phải là thị trường, không phải là vốn, thậm chí không phải là khả năng quản trị doanh nghiệp. Nỗi sợ hãi về những chủ trương chính sách từ trên trời rơi xuống làm chết cứng các doanh nghiệp của năm 2011-2012  vẫn còn làm các doanh nghiệp đêm đêm mơ thấy ác mộng. Hiếm có nền kinh tế nào chỉ trong một năm có thể giảm lạm phát từ trên 20% xuống chỉ còn khoảng 7% năm. Không có một chuyên gia nào dự đoán đúng được diễn biến của thị trường tài chính năm 2011-2012 bởi sự ban hành nhiều chính sách mới một cách đột ngột. Vì vậy mong ước lớn nhất của doanh nghiệp là sự ổn định dài hơi của chính sách kinh tế. Có sự ổn định đó, doanh nghiệp mới có thể lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và phát triển. Tiếc thay đến bây giờ điều đó cũng chưa có được. Ổn định chính sách chính là điều mong ước nhất của các doanh nghiệp.
Mới nhìn nhận dưới góc độ doanh nghiệp và người lao động đã cho thấy có quá nhiều hệ lụy từ việc các doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động. Doanh nghiệp ngừng hoạt động, người công nhân mất việc bị đẩy ra đường và kéo theo những bất ổn về mặt xã hội cũng như bất ổn về an ninh trật tự. Hơn lúc nào hết, nhà nước cần có những chính sách hợp lý, đúng đắn đối với các doanh nghiệp và những chính sách đó phải được thực hiện một cách minh bạch, như thế mới mong “cứu” các doanh nghiệp ra khỏi tình trạng bi đát như hiện nay.

Dư nợ tín dụng liên quan đến BĐS, như vay kinh doanh BĐS, vay đầu tư sản xuất kinh doanh và thế chấp bằng BĐS… chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ. Đây là một vấn đề lớn, do nợ xấu BĐS kéo theo sự trì trệ của hai ngành quan trọng đối với việc làm và an sinh xã hội là xây dựng và vật liệu xây dựng. Ngành xây dựng tạo việc làm cho khoảng 3,3 triệu lao động, tương ứng với 6,4% tổng lao động của nền kinh tế. Lao động trong ngành này có mức thu nhập thấp hơn so với mức trung bình của nền kinh tế và 88,9% lao động trong ngành này không có bảo hiểm xã hội. Trong khi đó ngành vật liệu xây dựng có khoảng trên 500.000 lao động, chiếm trên 1% tổng số lao động của nền kinh tế và 62,3% lao động trong ngành không có bảo hiểm xã hội. Như vậy thị trường BĐS đóng băng, các DN BĐS phá sản sẽ kéo theo việc hàng triệu lao động của 2 ngành liên quan đến mật thiết đến BĐS sẽ bị thất nghiệp và có nguy cơ thất nghiệp.
Trần Việt-Lương Nga-Linh nhật
%d bloggers like this: