Thành tựu trong kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2015

Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của nước ta giai đoạn 2011-2015 đã bị ảnh hưởng không nhỏ do bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn và những diễn biến phức tạp về địa chính trị, cũng như do sức lực nội tại của nền kinh tế vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết cả khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của Chính phủ để vượt qua các rào cản đó, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ngày một ổn định hơn được thể hiện ở việc phân tích so sánh chỉ số tăng trưởng kinh tế và lạm phát cơ bản năm sau so với năm trước. Đặc biệt, thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát đã đạt được 2 năm 2014-2015 đang là nền tảng kế tiếp vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu này trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 của nước ta.

Từ khóa: thành tựu, tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cơ bản

1.Đặt vấn đề

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô. Sự tác động qua lại giữa hai vấn đề – hai hiện tượng này là rất phức tạp bởi chúng có thể tác động tích cực và cũng có thể tác động tiêu cực lẫn nhau, hoặc giữa chúng tồn tại tương đối độc lập trong những hoàn cảnh kinh tế – xã hội nhất định ở mỗi quốc gia. Thời gian qua, sự bất ổn của kinh tế thế giới và những tiềm ẩn của nó đã tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Để có được mức tăng trưởng kinh tế, không ít nước đã phải đánh đổi với mức lạm phát cao. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa 2 hiện tượng này. Ví dụ như:

– Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ tiêu cực, trong khi cũng có nghiên cứu khác lại cho kết qủa trái ngược với điều vừa nêu [1].

– Theo lý thuyết tài chính – tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và lạm phát là 2 hiện tượng độc lập. Nếu như lạm phát là hệ quả trực tiếp của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh thì hệ quả này là tạm thời, nhưng trong trung hạn và dài hạn thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính [2].

– Trường phái Keynes cho rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều [3].

– Ở nhiều quốc gia, chỉ số giá tiêu dùng hay lạm phát là cách tư duy về ổn định giá và là cơ sở để xác định nền kinh tế đã ổn định hay không. Bởi nếu giá tiêu dùng hoặc lạm phát cứ tăng, diễn biến khó kiểm soát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế [4].

(Nguồn: Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội, số Xuân Bính Thân 2016)

Tải bài viết tại đây: Lam phat va GDP

Advertisements

Xuất khẩu nông sản sụt giảm: Nguyên nhân và khuyến nghị giải pháp

(NVT)- Xuất khẩu nông sản là một trong những chính sách thương mại quốc tế quan trọng của nước ta trong quá trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế. Nhờ đó, hàng hóa nông sản của nước ta đã và đang tạo dựng được chỗ đứng, cũng như thương hiệu trên thị trường quốc tế, đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu và là một cường quốc về nông sản trên thế giới,… Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản của nước ta còn đứng trước không ít những khó khăn, rào cản khi thâm nhập và duy trì thị trường nước ngoài. Đặc biệt là images828426_000001từ đầu năm đến nay, đầu ra một số mặt hàng nông sản chính xuất khẩu của nước ta lại sụt giảm đáng kể trong khi thị trường tiêu thụ ngoài nước ngày càng được phát triển và mở rộng theo đà của tiến trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế toàn cầu. Dó đó, việc làm rõ nguyên nhân cơ bản làm sụt giảm để trên cơ sở đó đưa ra được một số khuyến nghị có tính giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá trị nông sản là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn nước ta.

Từ khóa: Nông sản, nông nghiệp, xuất khẩu, thị trường quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Là một nước đi lên từ nông nghiệp bởi có nhiều lợi thế về sản xuất hàng nông sản trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy mà từ nhiều năm trở lại đây, hàng nông sản của nước ta đã và đang có vị trí ngày càng quan trọng trên thị trường hàng nông sản thế giới với các mặt hàng nông sản chủ yếu như : cà phê, điều, hạt tiêu, chè, gạo,…Tuy nhiên, thị trường nông sản thế giới cũng ngày càng chứa đựng những đòi hỏi khắt khe về nhiều phương diện khác nhau như: công nghệ sản xuất- chế biến, giá cả, chất lượng sản phẩm, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng và những thương lượng thương mại giữa các quốc gia,…Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số lượng thị trường xuất khẩu hàng nông sản nước ta trong những năm gần đây đã tăng khá nhanh, từ 107 thị trường năm 2008 đã tăng lên 129 thị trường trên toàn cầu ở năm 2013. Điều này cho thấy, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản trên phạm vi cả nước đã có nỗ lực rất lớn trong việc giữ ổn định thị phần và tìm kiếm thêm bạn hàng mới trên các thị trường truyền thống, không ngừng thâm nhập và mở rộng thị trường mới ở khắp các châu. Mới đây, việc ký kết hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á – Âu, giữa Việt Nam và Hàn Quốc; cũng như cuối năm nay, cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức sẽ được thành lập mà nước ta là một thành viên, cùng với hiệp định thương mại tự do đang chuẩn bị ký kết với Liên minh EU,… đang tạo thêm cơ hội cho nông sản Việt Nam khi hàng rào thuế quan đối với mặt hàng này hầu hết được dỡ bỏ,…

Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của nước ta lại chưa quan tâm thỏa đáng vào những tiêu chí cả thuận lợi, lẫn thách thức như đã nêu trên.Vì vậy, nông sản xuất khẩu của nước ta vẫn chủ yếu là xuất khẩu thô, giá trị và khả năng cạnh tranh còn thấp so với các nước trong khu vực,…

Tải bài viết tại đây: XK nong san sut giam nguyen nhan va khuyen nghi giai phap

Sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân nước ta: Nhìn lại giai đoạn 2008- 2013

(NVT)- Sự vận động của quy luật kinh tế thị trường nói chung ngày càng làm cho khu vực hoặc thành phần kinh tế ngoài nhà nước, chủ yếu là loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước có vị thế và vai trò chủ đạo ở các nền kinh tế phát triển, trong đó có sự đóng góp quan trọng của doanh nhiệp tư nhân. Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân đã được định vị từ năm 1990 và kể từ đó, các doanh nghiệp tư nhân trở thành một loại hình, một khu vực doanh nghiệp ngày càng đông đảo, có vị thế và vai trò cũng ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Vì vậy, để loại hình doanh nghiệp này “cất cánh”, đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế thì việc phân tích, đánh giá lại sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, qua đó làm rõ một số “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển của nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng đối với chính sự phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân nói riêng, với công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta nói chung.

(Ảnh minh họa)

Bấm vào đây để tải bài viết nàyNhin lai su phat trien cua doanh nghiep tu nhan nuoc ta giai doan 2008-2013

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Ông Nguyễn Toàn Phong, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội (Sở LĐTBXH Hà Nội):Mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu thị trường

Theo thống kê của Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội, trung bình mỗi phiên giao dịch có khoảng 2.000 người lao động đến tìm việc, trong đó có đến hơn 60% lao động tốt nghiệp CĐ, ĐH.

Điều này thể hiện sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Hiện các doanh nghiệp tập trung tuyển dụng lao động kỹ thuật phổ thông, lao động có kỹ năng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh; trong khi, như nói trên, số người tìm đến trung tâm giới thiệu việc làm vẫn chủ yếu là sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ…

Bên cạnh đó, kinh tế những năm qua khá khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm nhân lực hoặc giải thể. Trong khi đó, Hà Nội là nơi tập trung đông các trường CĐ, ĐH, tình trạng thất nghiệp của các cử nhân, thạc sĩ vì vậy dồn ứ từ nhiều năm, đến nay càng trở nên rõ nét. Rất nhiều cử nhân đành chấp nhận tìm việc trái ngành, thậm chí là làm lao động phổ thông. Cũng không ít trường hợp có bằng thạc sĩ vẫn phải cầm hồ sơ gõ cửa từng doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Lao động xã hội:Hệ quả của tâm lý sính bằng đại học

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường gia tăng do nhiều nguyên nhân. Trước tiên, về phía sinh viên, họ vẫn chịu áp lực từ xã hội, gia đình là phải có bằng cấp, nên kiểu gì cũng phải thi vào ĐH, CĐ, mà không quan tâm đến nhu cầu của nền kinh tế, nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động là cần những ngành nghề gì, cần ở đâu?…

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ hệ thống giáo dục đào tạo, dạy nghề hiện nay vẫn theo định hướng cung, dạy những gì chúng ta “có”, chứ không phải dạy cái xã hội cần. Vì vậy vấn đề quan trọng nhất là thị trường lao động cần gì, ngành nghề gì, kỹ năng gì, phẩm chất gì… thì chúng ta chưa đáp ứng được. Nhiều bạn trẻ được đào tạo ra, khi phỏng vấn xin việc doanh nghiệp thấy không đáp ứng được về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của người lao động trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa, công nghiệp hóa.

Nguyên nhân thứ ba là khi nền kinh tế phát triển và công nghệ ngày càng hiện đại, sẽ đòi hỏi nhân lực trình độ cao hơn nhưng lại phải gắn với ngành nghề cụ thể. Có đến 70-80% thanh niên thành phố muốn học về tài chính, ngân hàng, quản trị kinh doanh; trong khi nhiều ngành khác như công nghệ thông tin, chế tạo máy… không có ai học. Trong thời điểm kinh tế phát triển, thì cần thu hút nhân lực ngân hàng, tài chính; nhưng khi cơ cấu nền kinh tế thay đổi, bị tác động của khủng hoảng kinh tế… thì những ngành này sẽ khó xin việc làm.

Nguyên nhân thứ 4 là việc xác định tính bền vững về nghề nghiệp của thanh niên còn yếu, chúng ta vẫn theo xu thế nghề thời thượng, nghề thu nhập cao, nghề được xã hội đánh giá cao, mà chưa chọn nghề phù hợp với năng lực bản thân. Mỗi chúng ta có năng lực nhất định, có người hợp với hội họa, có người hợp thể thao… “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, khi có nghề nghiệp chuyên sâu thì mới sống được bằng nghề và phát huy được tài năng.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế- xã hội Quốc gia: Nội dung chương trình học xa rời thực tế

Thực tế người có trình độ chuyên môn cao lại thất nghiệp, trong khi đó thị trường lao động lại cần lao động kỹ năng, đã dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Bên cạnh đó là vấn đề về chất lượng và nội dung đào tạo, ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và đơn vị sử dụng lao động. Trên thực tế, khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp hầu như đều phải đào tạo lại, đào tạo qua thực tiễn, qua công việc hàng ngày, để giúp cho người lao động dần thích nghi với công việc. Quan trọng nhất là nội dung đào tạo phù hợp với thị trường lao động. Theo tôi, cần dự báo được nhu cầu lao động theo ngành nghề, để từ đó đào tạo nguồn cung cho phù hợp, đáp ứng và tạo sự kết nối với nhau.

Về tầm vĩ mô, các bộ liên quan phải ngồi lại để cùng rà soát lại về tình trạng sinh viên ra trường lại không tìm việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề; chỉ ra nguyên nhân tại sao dư thừa, từ đó kết nối cung cầu thị trường lao động. Hiện nay các cơ quan quản lý vẫn chưa ngồi lại với nhau tìm ra giải pháp cũng như tiếng nói chung giải quyết vấn đề cung – cầu lao động.

Xuân Minh

(Theo baotintuc.vn )

Báo Nga khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa

(vietnamplus.vn)– Ngày 1/6, tờ Gazeta.ru, một trong 3 báo điện tử tư nhân lớn nhất ở Nga với lượng truy cập trung bình 3 triệu lượt/ngày có bài viết: “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận” của nhà báo Vladimir Koryagin.

Vấn đề biển đông cần sự đoàn kết cao của cộng đồng Asean

Ảnh chụp từ trang web Gazeta.ru

Tác giả đã đưa ra một số chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ yêu sách chủ quyền phi căn cứ của Trung Quốc và cung cấp cho đọc giả thông tin khái quát về diễn biến tranh chấp xung quanh quần đảo này. PV TTXVN tại Liên bang Nga giới thiệu nội dung bài viết:

400 năm không có Trung Quốc

Trong thế kỷ 20, Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng tiềm tàng mà xung đột có thể dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba. Tuy nhiên lịch sử xung đột xung quanh các vùng lãnh thổ tranh chấp nằm trên Biển Đông đã có lịch sử ít nhất vài thế kỷ. Về cơ bản, các nước trong diện tranh chấp đều đưa ra các bản đồ cổ làm bằng chứng nhằm khẳng định chủ quyền đối với một hoặc một vài hòn đảo.

Quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa lần đầu tiên được nhắc đến vào thế kỷ thứ 17 trong “Tuyển tập bản đồ chỉ dẫn các con đường dẫn xuống đất phía Nam” của Việt Nam dưới tên có nghĩa là “Cát vàng.”

Theo các tài liệu lịch sử, vào năm 1721 Việt Nam đã thành lập Cơ quan hành chính “Hoàng Sa” (Hoàng Sa là tên gọi bằng tiếng Việt của Paracel) nhằm khai thác tập trung các hòn đảo ở biển Đông, cũng như trang bị các tàu để tiến ra các đảo này.

Trong khi đó, trong các tàng thư và tài liệu của Trung Quốc thời đó, kể cả trong “Đại sử ký nhà Thanh” đều không nhắc đến hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Hoàng Sa cũng chỉ được một số ít các nhà đi biển người Pháp và Hà Lan nhắc đến, những người may mắn vượt qua Biển Đông thành công và đến được Việt Nam. Họ cũng viết rằng chính người Việt Nam đã thu được một số lượng lớn súng đạn và các đồ vật có giá trị khác từ những con tàu bị đắm khi đi qua các quần đảo này. Người Việt Nam thậm chí còn xây dựng một hạm đội quy mô nhỏ nhằm kiểm soát các tàu của nước ngoài đánh bắt cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Đến đầu thế kỷ 19, vua Gia Long, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và cũng là vị vua đầu tiên của Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong thời gian này nhiều bản đồ các loại đã được xuất bản, trong đó Hoàng Sa được biểu thị là lãnh thổ của Việt Nam.

Năm 1838 nhà truyền giáo Công giáo Pháp Joan-Luis-Taberu đã xuất bản cuốn “Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (tạm dịch là cuốn từ điển tiếng Việt-Latinh). Trong đó quần đảo Hoàng Sa được định nghĩa là “Paracel seu Cát vàng.” Tiếp sau đó, nhà địa lý Hà Lan Villem Blau chính thức đặt tên cho đảo này bằng tiếng châu Âu là “Pracel.” Về sau này do sự mai một của thời gian và các nhà đi biển người Pháp truyền khẩu không chính xác nên “Pracel” đã bị gọi trệch đi thành “Le Paracel.”

Cuối thế kỷ 19 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa có 2 tàu chở đồng của Anh bị đắm. Người dân đảo Hải Nam của Trung Quốc trục vớt được và chiếm giữ hàng hoá trên tàu khiến chính quyền Anh hết sức bất bình. Khi đó Trung Quốc trả lời chính quyền Anh rằng quần đảo Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, vì vậy chính quyền nước này không chịu trách nhiệm trước bất cứ sự việc gì xảy ra ở đây.

(Ảnh chụp từ trang web)

Bành trướng trỗi dậy

Hiện trạng ở quần đảo Hoàng Sa lẽ ra được giữ nguyên dưới thời Pháp thuộc nếu như không có sự đối đầu Anh-Pháp và kéo theo sự ủng hộ tương ứng của Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1933 cuốn “Bản đồ quản lý hành chính mới của Trung Quốc” ra đời, trên đó Trường Sa và Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi theo tiếng Hán là “Nam Sa và Tây Sa” trực thuộc quản lý hành chính của tỉnh Quảng Đông.

Dưới tác động của bối cảnh mới này chính quyền đô hộ Pháp đã áp dụng một số biện pháp: Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp-Vương quốc Annam – quần đảo Hoàng Sa, 1816.” Cũng trong khoảng thời gian đó, Nhật tích cực hoạt động, đánh chiếm đầu tiên là Trường Sa sau đó là Hoàng Sa vào đầu thế chiến thứ hai.

Năm 1946, người Pháp và Việt Nam tiến ra quần đảo Hoàng Sa để giải giáp quân Nhật đang đồn trú tại đây, tuy nhiên bị quân đội Trung Quốc ngăn cản. Trong vòng 1 ngày, Quân đội Trung Quốc đã củng cố vững chắc lực lượng trên quần đảo và năm 1947 Tưởng Giới Thạch ban bố một quyết định, theo đó Trường Sa và Hoàng Sa chính thức mang tên gọi của Trung Quốc và thuộc thành phần lãnh thổ Trung Quốc. Lúc đó Bắc Kinh phớt lờ sự phản đối từ phía chính phủ Việt Nam và Pháp.

Khi Tưởng Giới Thạch và thân cận trong Quốc Dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan thì toàn bộ các đơn vị đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa cũng rút theo. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông lên nắm quyền tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này. Cùng thời điểm này Nhật Bản chính thức tuyên bố từ bỏ quyền và yêu sách đối với cả 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Điều này được ghi nhận trong Hiệp ước hoà bình San-Francisco 1951.

Năm 1956 Viễn chinh Pháp rút hoàn toàn khỏi lãnh thổ Việt nam và kể từ thời điểm này Việt Nam, vốn bị chia cắt làm 2 miền phải độc lập chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc. Cũng trong năm 1956 Trung Quốc đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa còn Việt Nam chiếm giữ một phần, nơi trước đây quân đội Pháp kiểm soát.

Sự căng thẳng tình hình tiếp theo xảy ra vào năm 1959, khi Trung Quốc đưa 80 lính và vật liệu xây dựng lên quần đảo xây nhà kiên cố và sau đó dựng cờ Trung Quốc. Các đơn vị biên phòng miền Nam Việt Nam ngay lập tức có mặt tại các hòn đảo và bắt giữ toàn bộ người trên đó. Bắc Kinh chỉ thể hiện sự phẫn nộ bằng cách ra công hàm phản đối ở cấp Bộ Ngoại giao vì lo ngại phải chạm trán với quân đội Mỹ đến giúp đỡ chính quyền miền Nam Việt Nam.

Năm 1964 Mỹ đẩy mạnh can thiệp vào Việt Nam bằng cách hậu thuẫn chính quyền miền Nam.

Trung Quốc đã không thể lợi dụng sự thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt nam vào mục đích của mình và từ năm 1971 bắt đầu bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Việc này cho phép Trung Quốc hợp pháp hoá yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Năm 1974 Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ các hòn đảo. Thời điểm đó Mỹ đang bận chuẩn bị ký Hiệp định hoà bình với Việt Nam, đồng thời rút toàn bộ quân ra khỏi các vùng cứ điểm ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, chính quyền miền Bắc Việt Nam cũng đang tập trung toàn bộ lực lượng để tiến hành chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn.

Trung Quốc đánh chiếm được Hoàng Sa một mặt do chính quyền miền Nam Việt Nam không còn nhận được sự hẫu thuẫn của Mỹ nên rất yếu và Mỹ-Trung không còn là đối thủ của nhau. Mặt khác chính quyền miền Bắc Việt Nam còn đang lo nhiệm vụ thống nhất đất nước nên chưa thể nêu yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa. Như vậy, việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa được xem như sự đã rồi, để từ đây Trung Quốc bắt đầu hướng bành trướng xuống quần đảo Trường Sa./.

(Theo Vietnamplus.vn)

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

(NVT-) Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương chiếm dao động từ 80 đến 90% lực lượng lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%.

Phát triển lao động tiền lương: một trong những nhân tố cơ bản để Việt Nam phát triển kinh tế – xã hội

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Báo đại đoàn kết online: Đăng ký dự thi Đại học, Cao đẳng 2014: Sóng gió cho một lựa chọn

Ngày 17-4 là hết hạn nộp hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ tại các trường THPT và thí sinh tự do nộp theo hệ thống các sở GD&ĐT, nhưng hạn nộp hồ sơ đăng kí dự thi trực tiếp tại trường ĐH đến hết ngày 24-4. Năm nay có khá nhiều thông tin mới liên quan tới kì thi đồi hỏi thí sinh cần tỉnh táo để khỏi lạc đường. 

Tuyển sinh ĐH, CĐ 2014 nhiều thông tin mới

Ám ảnh thất nghiệp
Nhiều buổi tư vấn hướng nghiệp cung cấp thông tin về nghề nghiệp và việc làm cho học sinh chuẩn bị tốt nghiệp THPT đã diễn ra ở mọi miền, mong giúp các em tránh những lựa chọn sai gây lãng phí thời gian và công sức khi chọn ngành học và trường học. Tuy nhiên con số 72.000 cử nhân, thạc sĩ đang thất nghiệp tạo áp lực lớn vì không phải số người thất nghiệp này chưa từng được tư vấn hướng nghiệp trước đó.
Cho rằng hiện tượng thất nghiệp lớn và quá lãng phí này là “lỗi do đào tạo” không sai nhưng căn bản, lỗi do hướng nghiệp, khi nhu cầu thị trường lao động hiện nay không Bộ ngành nào chịu trách nhiệm thống kê, quy hoạch các bậc đào tạo, dự báo cụ thể nguồn nhân lực ngắn hạn và dài hạn. Quy hoạch nhân lực quốc gia cho thấy tới năm 2015 Việt Nam cần khoảng 3,5 triệu lao động trình độ đại học trở lên, nhưng thực tế cuối năm 2013 đã có hơn 3,7 triệu lao động có trình độ này, không thất nghiệp mới lạ.
Theo TS.Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM, một khi quy chế thi ĐH, CĐ ban hành trước quy chế thi tốt nghiệp THPT, học sinh phải làm hồ sơ dự thi ĐH xong rồi mới làm thủ tục thi tốt nghiệp thì học sinh lớp 12 chưa kịp tốt nghiệp đã chuẩn bị sẵn tâm lý lao vào các kỳ thi ĐH, CĐ. Đây là một lý do để hầu hết bị “lùa vào ĐH”.
TS Nguyễn Văn Thuật, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia cho rằng cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương ngày càng nhiều. “Ở các nước phát triển, giới làm công ăn lương dao động từ 85 đến 90% dân số trong độ tuổi lao động, trong khi nước ta thì số đó chỉ chiếm 35%”.
Biết mình biết đời
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nguồn nhân lực TP.HCM, hiện nay “hầu hết các em học sinh, khi chọn ngành học cho mình đều hết sức cảm tính.
Để tránh sự định hướng sai trong việc chọn nghề, theo các chuyên gia hướng nghiệp, học sinh phải xác định được sở thích và thế mạnh của mình, hãy tự đặt và trả lời hai câu hỏi là công việc nào khiến bạn thích làm nhất trong cuộc sống? Bạn thường làm những công việc nào tốt hơn người khác? Chọn ra đáp án chung cho cả hai câu hỏi là đã xác định được mình thích và làm tốt được việc gì.
Song để không lúng túng và có sự đầu tư tốt cho nghề nghiệp trong tương lai, còn cần tìm hiểu để có những hiểu biết nhất định về thị trường lao động, về nhu cầu, điều kiện việc làm, ngành nghề đào tạo, tuyển dụng….
Theo nghiên cứu của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội Quốc gia công bố tại hội thảo đầu tháng 4.2014, sự gia tăng lực lượng lao động nước ta nhanh hơn tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm khiến áp lực tạo việc làm mới khá cao. Tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm giai đoạn 2002-2012 là 1,05%, trong khi tốc độ tăng lực lượng lao động 2,64% – cao hơn 2 lần.
Tuy vậy vẫn thiếu lao động chất lượng cao ở mọi bậc đào tạo, từ trung cấp tới cao đẳng.
Không dễ mắc lừa
Kỳ tuyển sinh ĐH năm nay Trường ĐH Kinh tế (ĐH Quốc gia HN) công bố mức thưởng 30 triệu đồng/ thí sinh thi vào trường đạt điểm tuyệt đối 30/30. Nếu đạt 29,5/30 điểm được thưởng 10 triệu đồng, 29/30 điểm được thưởng 5 triệu đồng. Đây là chính sách ưu đãi của nhà trường để thu hút nhân tài và nâng cao thương hiệu trường. Các trường ĐH Giáo dục, ĐH Công nghệ, chương trình chất lượng cao của ĐH Quốc gia HN cũng có nhiều ưu tiên tuyển sinh và thưởng nóng cho thí sinh điểm thi cao.
Ngoài những học bổng kiểu truyền thống dành cho những thủ khoa, á khoa, học sinh giỏi… năm nay, nhiều hình thức học bổng bị biến tướng thành các chiêu đánh bóng tên tuổi, quảng bá và thu hút thí sinh, cần tỉnh táo cân nhắc, nhất là học bổng dành cho thí sinh… nhập học sớm nhất.
Sở GD&ĐT Hải Phòng cũng vừa cảnh báo tình trạng thu nhận hồ sơ thi ĐH, CĐ “chui” khi thời gian qua, một số trường ĐH, CĐ đã đến các đơn vị đăng ký dự thi như trường THPT, Trung tâm GDTX ở thành phố để “tư vấn, hướng nghiệp” cho học sinh lớp 12 rồi cung cấp hồ sơ miễn phí cho thí sinh và đề nghị lãnh đạo và cán bộ tuyển sinh của các đơn vị thu hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh và bàn giao trực tiếp cho các tổ chức cá nhân này không thông qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Việc làm trên là trái với quy định của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hải Phòng không chịu trách nhiệm với các hồ sơ đăng ký dự thi của thí sinh không nộp qua hệ thống tuyển sinh của thành phố.
Cân nhắc chọn trường, ngành xét tuyển, ngành thi 
Kỳ tuyển sinh 2014 có nhiều thay đổi. Ngoài đợt thi 3chung thí sinh có thêm cơ hội thử sức ở hơn 60 trường tuyển sinh riêng, dù thông tin ban đầu cho thấy thí sinh chưa mặn mà với các trường thi riêng này.
Các trường ĐH vùng như ĐH Đà Nẵng, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đồng Tháp, ĐH Vinh… đăng ký tuyển sinh theo phương án “3 chung”, nhưng có một số ngành tuyển sinh riêng. “Những trường khác đã đăng ký tuyển sinh riêng với Bộ hoặc có trường tới 75% chỉ tiêu tuyển sinh “3 chung”, còn lại là xét tuyển dựa trên kết quả học tập THPT hay xét kết quả thi tốt nghiệp”, ông Mai Văn Trinh, Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT lưu ý.
“Các em không nên vội vàng nộp hồ sơ đăng ký dự thi bởi ngoài việc nộp trực tiếp tại các trường THPT theo tuyến các Sở GD&ĐT, vẫn còn thời gian để nộp tại các trường ĐH, CĐ có tổ chức thi tuyển đến hết ngày 24-4”, ông Trần Văn Nghĩa – Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng (Bộ GD&ĐT) nói.
Hôm nay 15-4 là hạn cuối đăng ký sơ tuyển vào khối trường Quân đội. Đối với hệ dân sự của các trường quân đội thì thí sinh đăng ký dự thi (ĐKDT) giống như các trường ngoài quân đội tham gia kì thi “3 chung” của Bộ GD&ĐT. Thí sinh không phải tham gia sơ tuyển khi đăng ký theo học các ngành hệ dân sự.

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

(NVT)- Quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Ảnh toàn cảnh Hội thảo (Nguồn MPI Portal)

Ngày 1 tháng 4 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia (NCSEIF) và Viện Nghiên cứu KT-XH Ireland (ESRI) đồng tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”.

Áp lực tạo việc làm mới ngày càng cao

Lao động Việt Nam sẽ càng ngày càng thiếu việc làm

Chất lượng lao động chưa cao

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Áp lực việc làm ngày càng nặng

Giải pháp nào để phát triển thị trường lao động Việt Nam?

Tìm giải pháp hiệu quả để phát triển thị trường lao động Việt Nam

Sức ép cung – cầu trong thị trường lao động

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Thị trường lao động cần tận dụng giai đoạn dân số vàng

 Tại hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012”  đã cung cấp một bức tranh tiếp cận từ vĩ mô đển vi mô (Từ góc độ nguồn cung lao động của cả nước đến góc độ nguồn cung lao động ở nông thôn/thành thị, nguồn cung lao động của nam và nữ) đã cho thấy:

Thứ nhất, quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Nguyên nhân của quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại đang lớn dần là do dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam đông và hàng năm số người trong nhóm dân số trẻ này gia nhập vào lực lượng lao động cũng nhiều, cũng như dân số quá tuổi lao động vẫn có nhu cầu việc làm hoặc vẫn tham gia các hoạt động kinh tế đang trong xu hướng gia tăng.

Nguyên nhân của tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng là do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và yếu tố vùng/miền khác nhau như mức sống gia đình giảm , vùng/địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thời gian học tập của dân số trong độ tuổi lao động giảm…

Thứ hai, Việt Nam đang là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ cao hơn so với phần lớn các nước trên thế giới. Tỷ lệ này đang trong xu hướng tăng, tăng ở cả nông thôn lẫn thành thị. Nói cách khác, ở nông thôn và thành thị đều có nguồn cung lao động nữ khá dồi dào.

 Nguyên nhân là do phụ nữ phụ ở nông thôn cũng như ở thành thị ngày càng có nhu cầu tham gia lao động. Mặt tính cực của xu hướng này thể hiện tính năng động của phụ nữ và cơ hội tham gia ít khác biệt giữa nam và nữ trong lực lượng lao động của Việt Nam nói chung …

Thứ ba, xét theo khu vực nông thôn/thành thị thì lực lượng lao động ở nông thôn đang trong xu hướng giảm, trong khi ở thành thị lại đang trong xu hướng tăng.

Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho diện tích khu vực nông thôn dần dần bị thu hẹp lại. Điều này đồng nghĩa với lực lượng lao động ở khu vực nông thôn đang giảm, lực lượng lao động ở khu vực thành thị đang tăng…

%d bloggers like this: