Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

(NVT)- Quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Ảnh toàn cảnh Hội thảo (Nguồn MPI Portal)

Ngày 1 tháng 4 năm 2014, Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia (NCSEIF) và Viện Nghiên cứu KT-XH Ireland (ESRI) đồng tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”.

Áp lực tạo việc làm mới ngày càng cao

Lao động Việt Nam sẽ càng ngày càng thiếu việc làm

Chất lượng lao động chưa cao

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Áp lực việc làm ngày càng nặng

Giải pháp nào để phát triển thị trường lao động Việt Nam?

Tìm giải pháp hiệu quả để phát triển thị trường lao động Việt Nam

Sức ép cung – cầu trong thị trường lao động

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Thị trường lao động cần tận dụng giai đoạn dân số vàng

 Tại hội thảo, báo cáo kết quả nghiên cứu “Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012”  đã cung cấp một bức tranh tiếp cận từ vĩ mô đển vi mô (Từ góc độ nguồn cung lao động của cả nước đến góc độ nguồn cung lao động ở nông thôn/thành thị, nguồn cung lao động của nam và nữ) đã cho thấy:

Thứ nhất, quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại Việt Nam đang lớn dần được biểu hiện ở lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đang trong xu hướng tăng nhưng chất lượng lao động lại rất thấp bởi có hơn 83% lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong khi cầu lao động lại vừa hạn hẹp, vừa cần lao động có chuyên môn và tay nghề. Vì vậy, sức ép cung lên cầu lao động ngày một nặng hơn.

Nguyên nhân của quy mô của nguồn cung lao động hàng năm tại đang lớn dần là do dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam đông và hàng năm số người trong nhóm dân số trẻ này gia nhập vào lực lượng lao động cũng nhiều, cũng như dân số quá tuổi lao động vẫn có nhu cầu việc làm hoặc vẫn tham gia các hoạt động kinh tế đang trong xu hướng gia tăng.

Nguyên nhân của tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tăng là do tác động của nhiều yếu tố kinh tế – xã hội và yếu tố vùng/miền khác nhau như mức sống gia đình giảm , vùng/địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, thời gian học tập của dân số trong độ tuổi lao động giảm…

Thứ hai, Việt Nam đang là nước có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ cao hơn so với phần lớn các nước trên thế giới. Tỷ lệ này đang trong xu hướng tăng, tăng ở cả nông thôn lẫn thành thị. Nói cách khác, ở nông thôn và thành thị đều có nguồn cung lao động nữ khá dồi dào.

 Nguyên nhân là do phụ nữ phụ ở nông thôn cũng như ở thành thị ngày càng có nhu cầu tham gia lao động. Mặt tính cực của xu hướng này thể hiện tính năng động của phụ nữ và cơ hội tham gia ít khác biệt giữa nam và nữ trong lực lượng lao động của Việt Nam nói chung …

Thứ ba, xét theo khu vực nông thôn/thành thị thì lực lượng lao động ở nông thôn đang trong xu hướng giảm, trong khi ở thành thị lại đang trong xu hướng tăng.

Nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng đang diễn ra mạnh mẽ, khiến cho diện tích khu vực nông thôn dần dần bị thu hẹp lại. Điều này đồng nghĩa với lực lượng lao động ở khu vực nông thôn đang giảm, lực lượng lao động ở khu vực thành thị đang tăng…

Dám nghĩ quyết liệt, dám làm vì dân

TT – Tại cuộc giao lưu, đối thoại trong khuôn khổ dự án “Quốc hội trẻ” do Văn phòng Quốc hội tổ chức ngày 29-3 với sự tài trợ của Đại sứ quán Anh.

TS Nguyễn Sĩ Dũng (giữa): “Muốn có đại biểu Quốc hội thông thái thì phải có những cử tri thông thái” – Ảnh: Lê Kiên

Nhiều sinh viên đã thẳng thắn góp ý cho hoạt động của Quốc hội cũng như gửi gắm những kỳ vọng tới các đại biểu Quốc hội.

Trong phần giới thiệu về vai trò của Quốc hội trước hơn 200 sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội, Viện đại học Mở và Học viện Báo chí và tuyên truyền, TS Nguyễn Sĩ Dũng – phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – hi vọng “trong tương lai chúng ta sẽ có những đại biểu Quốc hội tài giỏi hơn, đức độ hơn, sẽ có những cử tri biết đòi hỏi nhiều hơn trách nhiệm của nghị sĩ”. Ông Dũng cũng mong muốn thông qua các hoạt động như thế này để sinh viên, thế hệ trẻ nhận thức đầy đủ về vai trò, hoạt động của Quốc hội và nhận biết rằng tương lai mình có thể trở thành đại biểu Quốc hội không.

Ứng cử hứa nhiều, trúng cử không thực hiện

“Mong các vị đại biểu Quốc hội dám nói trung thực, dám nghĩ quyết liệt và dám làm vì dân. Hi vọng các vị không chỉ làm việc vì nước vì dân, mà còn là tấm gương sáng về đạo đức để thế hệ trẻ noi theo”

Sinh viên Lê Thị Yến Ly

Không ngần ngại đối thoại với ông Dũng, bạn Ngô Lê Mỹ Linh, sinh viên Đại học Luật Hà Nội (Linh là con gái đại biểu Quốc hội Ngô Văn Minh – PV), chất vấn: “Bác Nguyễn Sĩ Dũng hi vọng sau này có những đại biểu Quốc hội đức độ hơn, cháu đề nghị bác giải thích rõ đức độ hơn là thế nào, phải chăng đại biểu Quốc hội thời nay đang có vấn đề về đức độ nên mới phải hi vọng vào tương lai?”.

Ông Dũng giải thích rằng khái niệm đức độ mình đưa ra hơi trừu tượng một chút. “Một trong những yêu cầu cơ bản nhất trong đạo đức nghị viện là không được xung đột lợi ích. Tức là anh đã làm hành pháp rồi thì không nên làm lập pháp. Tôi muốn nhấn mạnh khía cạnh đức độ trong vấn đề này… Ví dụ, một ông thứ trưởng là đại biểu Quốc hội thì làm sao để giám sát có hiệu quả ông bộ trưởng là cấp trên của mình” – ông Dũng giải thích.

Trả lời bổ sung, đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng khía cạnh đức độ liên quan đến cơ chế vận hành của Quốc hội: “Hiện nay Quốc hội VN chỉ có khoảng 30% đại biểu chuyên trách, thời gian dành cho hoạt động của Quốc hội rất ít, nhiều đại biểu kiêm nhiệm lại là cấp dưới của đối tượng chịu sự giám sát của mình, do đó chúng ta chưa có một Quốc hội chuyên nghiệp, điều này cũng ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào Quốc hội”.

“Các bạn có nhớ mình đã bầu cử cho những ai làm đại biểu Quốc hội không?” – ông Dũng hỏi sinh viên và bình luận rằng “muốn có những đại biểu Quốc hội thông thái thì phải có những cử tri thông thái, một khi chúng ta đi bầu cử mà không nhớ mình đã bầu cho ai thì chúng ta phải tự hỏi về trách nhiệm của mình”. Câu hỏi và nhận xét này của ông Dũng cũng được Ngô Lê Mỹ Linh “xin hỏi ngược lại”: “Đại biểu Quốc hội đã làm gì để gần dân, hiểu dân, để dân biết và dân tin ở mình? Cháu thấy có những đại biểu khi ứng cử tại địa phương thì hứa với cử tri rất nhiều, nhưng sau khi trúng cử thì không thấy thực hiện lời hứa, thậm chí một lời cảm ơn cử tri cũng không có”.

Xa lạ với thế hệ trẻ

“Quốc hội VN còn là một diễn đàn khá xa lạ với thế hệ trẻ” – Lê Thị Yến Ly, sinh viên Đại học Luật Hà Nội, nhận xét. Theo bạn Ly, hiện nay thanh niên tại các địa phương chưa được quan tâm đúng mức về văn hóa và việc làm. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, thanh niên gần như không có diễn đàn để sinh hoạt, thảo luận, nói lên ý kiến của mình. Tại giảng đường đại học thì lý thuyết không gắn với thực tiễn.

“Nhu cầu đào tạo ngành luật rất lớn nhưng sinh viên luật ra trường không có việc làm. Tại sao sinh viên không được học luật gắn với thực tiễn? Không được giao lưu với các hãng luật, tòa án? Sinh viên luật muốn tìm một bản án phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm là khá khó khăn. Sinh viên cần những giờ học có hiệu quả chứ không phải là nhiều giờ học hình thức” – Ly nói.

Trước các bạn trẻ, TS Bùi Sỹ Lợi – phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội – thú thật “rất buồn khi nghe nhận xét Quốc hội còn xa rời sinh viên”, nhưng ông cũng thú nhận “đó đang là sự thật”. Bản thân ông Lợi trong gần 15 năm làm đại biểu cũng rất hiếm khi tiếp xúc cử tri là sinh viên, trong khi đó nhiều vấn đề bức bách của đất nước như tình trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm, thực hiện bảo hiểm y tế liên quan mật thiết đến sinh viên, giới trẻ.

“Cháu thấy có nhiều đạo luật Quốc hội ban hành sau một thời gian ngắn lại phải sửa, có những điều luật không đi vào cuộc sống, phải chăng tầm nhìn của Quốc hội cũng còn hạn chế?” – bạn Lê Hồng Hạnh, sinh viên Đại học Luật Hà Nội, hỏi. Ông Lợi đáp: “Câu hỏi của bạn có trong tâm tư các đại biểu Quốc hội. Đúng là hệ thống pháp luật của chúng ta có vấn đề, khi xây dựng luật có lúc còn chưa cập nhật đầy đủ thông tin, chưa tham khảo tường tận tâm tư, nguyện vọng của các đối tượng điều chỉnh và chưa có những phân tích, đánh giá xác đáng. Quốc hội phải nỗ lực để khắc phục tình trạng luật khung, luật ống”.

Đối thoại với đại biểu Quốc hội, nhiều bạn sinh viên đã đưa ra các câu hỏi thẳng thắn, ngay cả những câu hỏi mà không ít người lớn vẫn cho là nhạy cảm như “VN có nên tổ chức Quốc hội theo mô hình lưỡng viện không?”. Không né tránh trả lời, TS Nguyễn Sĩ Dũng bày tỏ: “Quan điểm cá nhân tôi là nên tổ chức mô hình Quốc hội lưỡng viện, vì như vậy vừa có đại diện của các địa phương lại có đại diện của toàn dân”.

LÊ KIÊN

(Theo tuoitre.vn)

Cải cách hành chính: Cái gốc vẫn là thể chế

Thời gian gần đây, xung quanh Dự thảo Nghị định do Bộ Nội vụ đưa ra về tinh giản biên chế Nhà nước, trong đó dự kiến giảm 100.000 biên chế trong thời gian 2014-2020, đang có nhiều ý kiến bàn luận khá sôi nổi.

Phó Thủ tướng: Rà soát cơ chế đối với trường tư

Cứu nền kinh tế đang “nguội dần”

Ổn định kinh tế vĩ mô: Cái gì, tại sao và thế nào?

Trước ý kiến về con số biên chế sẽ tinh giản, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn giải thích “Không đặt mục tiêu tinh giản 100.000 biên chế”, mà “Mục tiêu là nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, bảo đảm tính chuyên nghiệp của hoạt động công vụ” (VNN, ngày 12-2-2014). Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề đặt ra không đơn giản như vậy.

Cuộc cải cách nền hành chính nhà nước – nói cách khác, là một nội dung của cuộc đổi mới chính trị gắn với đổi mới kinh tế mà chúng ta đang thực hiện. Bài viết này xin được nêu lên một số ý kiến để cùng tham gia nghiên cứu, trao đổi.

Xác định đúng chức năng của Nhà nước

Từ nhiều năm nay, cuộc cải cách hành chính đã được triển khai, hiện nay là thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 với sáu nội dung: (1) Cải cách thể chế; (2) Cải cách thủ tục hành chính; (3) Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước; (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; (5) Cải cách tài chính công và (6) Hiện đại hóa hành chính.

Thực tế cho thấy cả sáu nội dung ấy của cải cách hành chính đều gắn rất chặt với nội dung hoạt động của Đảng, của bộ máy Nhà nước, thị trường và tổ chức xã hội; không thể cải cách riêng rẽ nền hành chính nhà nước nếu không có sự cải cách tương ứng của các cơ quan, tổ chức nói trên.

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có chức năng gì là một vấn đề rất lớn tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của đất nước, từ chức năng, nhiệm vụ đến tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, công chức, v.v… Những việc gì Chính phủ nhất thiết phải làm, những việc gì Chính phủ không cần làm hoặc có làm cũng kém hiệu quả mà nên chuyển giao cho các tổ chức xã hội đảm nhiệm.

Cũng có thể nói thêm: những việc gì Đảng nhất thiết phải lãnh đạo (với tư cách là Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện) và trực tiếp thực hiện bằng bộ máy của mình, còn những việc gì thì nên giao cho Quốc hội hoặc Chính phủ thực hiện. Về phía Quốc hội cũng vậy. Việc nào nên đặt ở tổ chức nào và kết hợp với nhau thì đạt hiệu quả cao hơn là điều cần cân nhắc.

Chỉ trên cơ sở xác định rõ sự “phân vai” rõ rệt ấy, mới bố trí bộ máy, chọn nhân sự và tổ chức hoạt động sao cho có hiệu quả. Nếu không, rất dễ xảy ra tình trạng bộ máy chồng chéo, cồng kềnh, biên chế lãng phí, và nhất là trách nhiệm không rõ, từ đó, tham nhũng xảy ra là không tránh khỏi.Trong bài viết đầu năm nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh “Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển, không làm thay dân mà phải tập trung xây dựng khuôn khổ thể chế phù hợp và tạo điều kiện cần thiết để mọi người phát huy năng lực và sức sáng tạo vì lợi ích của chính mình và đóng góp cho xã hội”.

Như vậy cũng tức là sự chuyển đổi quan niệm về một Nhà nước “cai trị”, “quản lý”, “điều hành” thậm chí “hành… là chính” (như Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng nói) sang “kiến tạo phát triển” phù hợp với lý thuyết về Nhà nước hiện đại. (Khái niệm “Nhà nước kiến tạo phát triển” được đưa ra lần đầu năm 1982 bởi giáo sư Mỹ Chalmers Ashby Johnson, Đại học California, trong đó Nhà nước đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô – theo Wikipedia).

Như vậy, để xác định hoạt động của Nhà nước, cái gốc vẫn là thể chế; không đổi mới thể chế, vẫn níu kéo cơ chế “xin – cho”, thậm chí để cho “lợi ích nhóm” tác động vào thể chế, chính sách, sẽ không có cơ sở để bố trí bộ máy, tuyển chọn nhân sự; việc tinh giản biên chế dựa vào đâu mà thực hiện?

Thể chế kinh tế có liên quan chặt chẽ với thể chế chính trị. Những năm qua, chúng ta tập trung đổi mới thể chế kinh tế, điều đó là đúng, nhưng đến nay, công cuộc đổi mới đòi hỏi đẩy mạnh đổi mới thể chế chính trị, đó là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, v.v… mà cốt lõi là bảo đảm các quyền của con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Đáng mừng là những nội dung nói trên đã được quy định rõ ràng trong Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua; hy vọng rằng việc thi hành Hiến pháp sẽ tạo sức mạnh mới cho công cuộc phát triển đất nước.“Nhà nước nhỏ, xã hội lớn”

Như trên đã nói, trong nền kinh tế thị trường, cần có sự hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp của ba trụ cột (Nhà nước, Thị trường, Tổ chức Xã hội), trong đó có sự “phân vai” rõ ràng, hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau cùng vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Trong giới nghiên cứu, thường dùng hình tượng “Nhà nước nhỏ” với ý nghĩa là bộ máy Nhà nước tinh gọn, song hiệu lực và hiệu quả cao, chứ không phải là hạ thấp vị trí, vai trò của Nhà nước. Cũng như vậy, nói “Xã hội lớn” là với ý nghĩa thị trường (các doanh nghiệp) ngày càng mở rộng sản xuất, kinh doanh trên khắp các ngành nghề mà pháp luật không cấm; và các tổ chức xã hội có chức năng góp phần với Nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ công đồng thời khỏa lấp các khiếm khuyết của thị trường, nhất là bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội.

Những điều nói trên, thực tiễn đã khẳng định, song vẫn cần nhắc lại, vì chưa phải mọi người đã nhất trí, nhất là đối với hoạt động của các tổ chức xã hội, có người còn cho là “công cụ diễn biến hòa bình” (!?).

Đối với thị trường, vấn đề đặt ra hiện nay vẫn là Nhà nước tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật nhằm bảo đảm sự vận hành thông thoáng của thị trường, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng. Cần dành không gian cho thị trường tự điều tiết, cho sự phân bổ các nguồn lực có hiệu quả cao nhất về kinh tế – xã hội. Cần rà soát chặt chẽ, giảm thiểu những văn bản xâm phạm quyền tự do kinh doanh hoặc quyền mưu cầu hạnh phúc chính đáng của người dân đang có chiều hướng phát triển.

Gần đây nhất, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã cho rằng Thông tư 16/2010 của Bộ Xây dựng là gây thiệt thòi cho người mua nhà chung cư, ban hành trái thẩm quyền và không phù hợp với quy định của Bộ Luật Dân sự và Luật Nhà ở (Báo Tuổi trẻ, 25-2-2014). Trong cuộc họp Thường vụ Quốc hội để xem xét Dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã kêu trời: “Bắt người dân chạy 15-20 cái giấy nộp mới đủ. Luật này có cải cách hành chính không?” (VNN, ngày 21-2-2014).

Đầu tư công nên hạn chế đến mức thấp nhất, nhằm vào những nhu cầu thiết yếu nhất, những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân không muốn đầu tư hoặc chưa đủ sức đầu tư. Cần xóa bỏ những rào cản ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế tư nhân. Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cần được đẩy nhanh hơn nữa (Chính phủ đã đề ra chỉ tiêu cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước trong hai năm 2014-2015 là một dấu hiệu tích cực).

Đối với các đoàn thể nhân dân, các tổ chức tự nguyện do dân lập ra – gọi chung là các tổ chức xã hội, hiệu quả và tác dụng đã thể hiện khá rõ và ngày càng cao hơn. Vấn đề đặt ra hiện nay là Nhà nước nên khuyến khích hơn nữa các hội, hiệp hội, các trung tâm, câu lạc bộ, quỹ xã hội, v.v… góp ý kiến để nâng cao chất lượng thể chế, chính sách, theo dõi, góp ý kiến với các cơ quan chức năng trong việc thực thi pháp luật, phòng, chống tham nhũng.

Nhà nước cũng nên chuyển giao cho các tổ chức này trực tiếp thực hiện các hoạt động xóa đói, giảm nghèo, khuyến công, khuyến nông, bảo đảm an sinh xã hội, v.v… qua đó thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân, khơi dậy những nguồn lực phong phú và to lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

Cũng xin nói thêm là nên tách riêng số cán bộ, viên chức của các tổ chức này ra khỏi danh mục biên chế công chức nhà nước. Như vậy sẽ bớt được biên chế của cơ quan nhà nước; vừa tạo điều kiện tinh giản biên chế công chức, để có thể sắp xếp lại bộ máy nhà nước, thu hút chuyên gia giỏi, tăng lương cho đội ngũ công chức; vừa tránh được xu hướng “hành chính hóa” các đoàn thể, khi cán bộ đoàn thể cũng mang chức danh “công chức” và ăn lương nhà nước.

Tóm lại, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đang là một yêu cầu cấp bách, song phải giải quyết trong tổng thể cuộc cải cách hành chính Nhà nước, đổi mới chính trị. Trước những thời cơ và thách thức mới trong giai đoạn phát triển của đất nước hiện nay, vấn đề đặt ra là bàn luận cho ra lẽ, để thống nhất nhận thức, từ đó tìm ra những giải pháp thiết thực và quyết tâm thực hiện, bảo đảm cho đổi mới kinh tế có thêm thuận lợi để triển khai.

VŨ QUỐC TUẤN/DNSGCT

Nga chấp thuận bảo vệ Viktor Ianoukovitch

(NVT)- Tổng thống vừa bị phế truất ở Ukraine, ông Viktor Ianoukovitch được báo chí Nga cho biết là ông đã yêu cầu Nga bảo về cá nhân ông và Nga đã chấp thuận đề nghị này.

Ông Viktor Ianoukovitch (Ảnh France 24)

Ông Viktor Ianoukovitch cũng đã tuyên bố rằng ông luôn luôn là tổng thống hợp pháp của Ukraine. Theo dự kiến, ông sẽ có buổi họp báo vào lúc 17h (Giờ địa phương, tức 13h GMT) ngày mai tại thành phố Rostov trên sông Đông ở miền nam nước Nga, gần biên giới Ukraine.

(Theo France 24 và lefigaro)

Kiến nghị Thủ tướng giải quyết tình trạng doanh nghiệp nợ lương

(TNO)- Ngày 20.2, UBND TP.HCM có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính đề xuất hướng xử lý liên quan đến tình trạng doanh nghiệp nợ lương người lao động.

 Kiến nghị Thủ tướng giải quyết tình trạng doanh nghiệp nợ lương
Công nhân chờ đòi nợ lương tại một doanh nghiệp có chủ bỏ trốn

Theo Phó chủ tịch UBND TP.HCM Hứa Ngọc Thuận, trong thời gian qua, do tình hình kinh tế suy giảm nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, người lao động bị mất việc làm, một số chủ doanh nghiệp bỏ trốn và nợ lương người lao động.

Trong năm 2013, trên địa bàn thành phố xảy ra 5 trường hợp doanh nghiệp có chủ bỏ trốn và còn nợ lương người lao động, cụ thể:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sae Hwa Vina, huyện Củ Chi (Hàn Quốc) nợ lương 650 lao động với số tiền 3 tỉ đồng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn may mặc Long Đại Phát, quận 12 (trong nước) nợ lương 48 lao động với số tiền 250 triệu đồng; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Il Shin Womo, huyện Củ Chi (Hàn Quốc) nợ lương 114 lao động với số tiền 2,5 tỉ đồng; Chi nhánh Công ty Cổ phần Nông thủy sản xuất khẩu Tùng Bách, quận Thủ Đức (trong nước) nợ lương 34 lao động với số tiền 132 triệu đồng; Công ty Kyung Sung Vina, huyện Hóc Môn (Hàn Quốc) nợ lương 146 lao động với số tiền 730 triệu đồng.

Do những vướng mắc về quy định pháp luật hiện hành, từ năm 2010 đến nay, thành phố chỉ thu hồi được hơn 342 triệu đồng từ việc thanh lý tài sản của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sin B, quận 12. Các khoản tạm ứng còn lại đã kéo dài nhiều năm nhưng vẫn chưa có nguồn để thanh toán, hoàn trả.

Cũng theo ông Hứa Ngọc Thuận, UBND thành phố đã tạm ứng từ ngân sách thành phố số tiền 146triệu đồng để hỗ trợ thanh toán nợ lương cho công nhân của Công ty Kyung Sung Vina, huyện Hóc Môn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ 

Để giải quyết dứt điểm khoản tạm ứng ngân sách chi trả hộ tiền lương cho người lao động của các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn, UBND thành phố kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ – ngành quy định tiêu chí xác định “doanh nghiệp có chủ bỏ trốn” để làm cơ sở thực hiện việc tạm ứng ngân sách địa phương hỗ trợ khoản nợ lương cho người lao động; hướng dẫn quy trình xử lý nhanh tài sản của các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn không phụ thuộc vào quy trình xử lý theo Luật phá sản.

Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn việc hỗ trợ người lao động có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp bị nợ lương tại các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn.

Tin, ảnhĐình Phú

Phát huy tối đa vai trò của đội ngũ trí thức

(Chinhphu.vn) –  Chiều 12/2, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì buổi làm việc với Bộ KHCN, Bộ Ngoại giao và Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam bàn công tác phối hợp nhằm phát huy vai trò và những đóng góp của đội ngũ trí thức vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Chủ tịch MTTQ Nguyễn Thiện Nhân làm việc với Bộ KHCN, Bộ Ngoại giao và Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam. Ảnh VGP/Từ Lương

Theo Thứ trưởng Bộ KHCN Lê Đình Tiến, để phát huy vai trò của trí thức trong hoạt động KHCN phục vụ xây dựng và phát triển đất nước, Bộ KHCN đã tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành nhiều chính sách mang tính đột phá.

Các chính sách đều tập trung tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp ứng dụng và đổi mới công nghệ, tăng cường hiệu quả liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, qua đó hình thành và phát triển đội ngũ doanh nghiệp KHCN để đáp ứng yêu cầu đặt hàng từ doanh nghiệp và thị trường.

Hiện cả nước có hơn 1.600 tổ chức KHCN, trong đó tổ chức KHCN ngoài công lập ngày càng tăng. Đây là một bước tiến mới của lĩnh vực KHCN trong đó có vai trò rất lớn của Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam.

Theo Thứ trưởng Lê Đình Tiến, trên cơ sở hệ thống chính sách pháp luật hiện hành, Bộ đã kiến nghị các giải pháp cụ thể như: Quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KHCN; trọng dụng đối với các nhà khoa học đầu ngành; các nhà khoa học trẻ tài năng được tuyển thẳng vào làm việc trong tổ chức KHCN công lập và được hưởng hệ số lương 5,08 tương đương bậc 3/8 ngạch chuyên viên chính và nhiều chính sách ưu tiên khác…

Những chính sách trọng dụng, đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học đầu ngành, nhà trí thức có uy tín đã tạo ra sự gắn kết và kích thích sự sáng tạo của các nhà khoa học trong nghiên cứu.

GS Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam đánh giá cao việc Chính phủ cho phép được nâng lương vượt bậc đối với cá nhân có thành tích trong hoạt động KHCN; kéo dài thời gian làm việc khi đủ tuổi nghỉ hưu đối với cá nhân giữ chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ hạng I, có chức danh Giáo sư (đến 70 tuổi), Phó Giáo sư (đến 67 tuổi) hoặc có trình độ Tiến sĩ trở lên (đến 65 tuổi) đang công tác tại các cơ sở giáo dục công lập. Đây là một trong những chính sách được các nhà khoa học và người dân đánh giá cao. Qua đó phát huy vai trò và những đóng góp của đội ngũ tri thức vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của GS Chu Phạm Ngọc Sơn về thúc đẩy lĩnh vực dược và sinh hóa. Ảnh: VGP/Từ Lương

 Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN Nguyễn Thiện Nhân khẳng định Mặt trận sẽ phối hợp chặt chẽ cùng Liên hiệp các Hội KHKT triển khai đồng bộ những giải pháp nhằm nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa đóng góp của đội ngũ trí thức với sự phát triển của đất nước, vừa đáp ứng chức năng của Mặt trận và Liên hiệp các Hội KHKT.

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân cũng cho ý kiến đối với những danh mục mà Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam sẽ tư vấn, giám định. Theo đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Liên hiệp hội cần tổ chức những diễn đàn khoa học để thu thập ý kiến, nếu Liên hiệp các Hội KHKT thấy cần kiến nghị, có tiếng nói ở cấp Quốc hội, Chính phủ thì MTTQ sẽ tham gia.

Đối với việc thực hiện chức năng giám sát và phản biện của Mặt trận, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân cũng khẳng định Liên hiệp hội KHKT sẽ là lực lượng nòng cốt trong các lĩnh vực liên quan đến lĩnh vực KHCN.

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân đề nghị trong tháng 3/2014, Trung ương  MTTQ Việt Nam sẽ ký kết biên bản thỏa thuận hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ và Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam để phát huy tối đa vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam.

 Từ Lương

Kinh tế 2014: Đâu là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”?

(HQ Online)– Ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng: Con tàu kinh tế sẽ tiếp tục có thêm gia tốc tiến về phía trước. Tin vào điều đó bởi năm 2014 là năm được hội tụ cả ba nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.

Thun li và thách thc đan xen trong năm 2014. nh: L.Bng

Đim mt ba nhân t giúp vượt khó

Trong bài viết đăng tải trên website của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, ông Vũ Viết Ngoạn nhấn mạnh: Năm 2014 đang chờ đón chúng ta với nhiều hứa hẹn thành công.

“Con tàu kinh tế sẽ tiếp tục có thêm gia tốc tiến về phía trước. Tin vào điều đó bởi năm 2014 là năm được hội tụ của cả ba nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa” – ông Vũ Viết Ngoạn tỏ ra lạc quan.

Điểm mặt các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính quốc gia cho rằng: Kinh tế thế giới khởi sắc hơn đó là thiên thời. Thành tựu kinh tế chúng ta đạt được trong những năm qua, đặc biệt là kiến tạo nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định tạo cho chúng ta thế và lực mới chính là địa lợi. Kinh nghiệm điều hành chính sách vượt qua khủng hoảng, khắc phục khó khăn được tích lũy trong suốt sáu năm qua chính là nhân hòa.

Niềm tin và quyết tâm hành động sẽ giúp chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2014, tạo nền tảng bền vững để phát triển nhanh hơn trong giai đoạn tiếp theo.

TS Vũ Viết Ngoạn

“Biết tận dụng cả ba nhân tố này sẽ là một động lực quan trọng giúp chúng ta vượt qua thách thức” – ông Ngoạn bày tỏ quan điểm trong bài viết.

Còn Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) nhận định trong bản báo cáo vĩ mô 2014 rằng: Năm 2014 được đánh giá là năm mà kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi dựa trên những tiền đề đã đạt được trong năm 2013. GDP 2014 được dự báo tăng khoảng 5,7-5,8%, cao hơn năm 2013 (5,42%) nhưng vẫn sẽ ở mức thấp so với tiềm năng (6%).

Tuy vậy, tăng trưởng vẫn sẽ dựa nhiều vào khu vực vốn đầu tư nước ngoài nhưng khu vực nội địa sẽ được đẩy mạnh hơn so với năm 2013 nhờ nợ xấu và tín dụng tiếp tục được cải thiện.

Không ít thách thc đ “sưởi m” nn kinh tế

Song, nền kinh tế cũng đối mặt với không ít thách thức là đánh giá của hầu hết giới nghiên cứu về kinh tế.

Báo cáo của BSC cho rằng: Năm 2014 cũng được coi là năm bản lề để xét khả năng phục hồi và tái cơ cấu nền kinh tế, tạo tiền đề cho những bước “chuyển mình mạnh mẽ hơn” trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên để đạt được điều này sẽ phụ thuộc rất lớn vào định hướng chính sách điều hành cũng như quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế, mở cửa hơn với nhà đầu tư nước ngoài từ phía Nhà nước Việt Nam.

“Năm 2014 vừa là cơ hội đồng thời cũng là thách thức, kinh tế Việt Nam trong các năm tiếp theo sau đó hoàn toàn có thể quay trở lại mức tăng trưởng cao trên 6% trước đó” – báo cáo của BSC dự báo.

Trong bài viết của mình, ông Vũ Viết Ngoạn cũng điểm mặt nhiều thách thức cho nền kinh tế. Những khó khăn là mức cầu nội địa trong năm 2014 chưa thể cải thiện nhiều, doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn, nợ xấu còn cao; tiến trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng chưa thể tạo sự thay đổi đột phá về năng suất lao động trong năm 2014.

Những thách thức trong 2014 còn là bài toán khó của cân đối ngân sách; áp lực tăng thêm nợ công, áp lực trả nợ của Chính phủ trong năm 2014 và một số năm tiếp theo…

Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, ông Vũ Viết Ngoạn chia sẻ: Yêu cầu đặt ra cho các nhà hoạch định và điều hành chính sách là phải kiên định mục tiêu, đánh giá và dự báo sát tình hình cũng như diễn biến của thị trường, qua đó lựa chọn chính sách và giải pháp thích hợp trên cả ba phương diện: thời điểm thực thi, liều lượng và khung thời gian của chính sách.

Lương Bng

%d bloggers like this: