Nghịch lý lao động Việt: “Vàng” số lượng, chưa “vàng” chất lượng!

Thị trường lao động ở Việt Nam sẽ chứng kiến xu hướng ngày càng có nhiều việc làm cho lao động lựa chọn, do doanh nghiệp (DN) ngoài nhà nước tạo ra. Nhưng, sự đáp ứng với yêu cầu công việc của lao động phần lớn vẫn còn thấp, do lao động hạn chế về kỹ năng, tay nghề và thường phải trải qua một thời gian nhất định theo hình thức vừa học vừa làm, hoặc DN phải đào tạo lại trước khi cho làm việc chính thức.

Ts. Nguyễn Văn Thuật – Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH quốc gia, dẫn số liệu thống kê cho thấy, nước ta vẫn đang trong thời kỳ dân số “vàng”. Nhưng, thực tiễn lại cho thấy chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng. Hiện có hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 79,1%), trong khi chỉ có 11,3 triệu người đã được đào tạo (chiếm 20,9%).

Thừa thầy, thiếu thợ

Ông Thuật đánh giá, những con số này phản ảnh chung là lao động dồi dào, nhưng chất lượng lao động trong nền kinh tế lại thấp, dẫn đến năng suất lao động (NSLĐ) thấp và lao động giá rẻ là lẽ đương nhiên.
Xét về chất lượng lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng cho thấy, lao động làm việc hàng năm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang trong xu hướng giảm, nhưng vẫn còn rất chậm và chiếm tỷ lệ cũng rất cao.

Trong khi đó, lao động đã qua dạy nghề, có trình độ trung cấp chuyên nghiệp lại có dấu hiệu giảm, hoặc chững lại và lao động có trình độ đại học trở lên lại có xu hướng tăng nhanh, từ 6,9% năm 2013 đã lên 9% năm 2016. Điều này phản ánh sự bất hợp lý về cơ cấu chất lượng lao động và do đó vẫn tạo nên tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong nền kinh tế của nước ta.

PGs.Ts. Cao Văn Sâm – Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, phân tích trong tổng số 54,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có khoảng 11,3 triệu người đã được đào tạo, chiếm 20,9% tổng lực lượng lao động.

Hiện cả nước có hơn 43 triệu người (chiếm 79,1% lực lượng lao động) chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định.

“Như vậy, nguồn nhân lực của nước ta trẻ và dồi dào, nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn thấp”, ông Sâm đánh giá.

Hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật

Theo ông Sâm, lực lượng lao động ở nước ta vẫn trong tình trạng thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; yếu kém về tin học, ngoại ngữ; thiếu hiểu biết về pháp luật; đạo đức nghề nghiệp chưa cao; thiếu tinh thần và ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới,… NSLĐ còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Cụ thể, NSLĐ của Việt Nam có xu hướng tăng chậm hơn so với các nước đang phát triển trong khu vực, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Theo đánh giá của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) công bố năm 2014, NSLĐ Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương và ở ASEAN: chỉ bằng 1/15 so với Singapore; 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan, chưa kể so sánh với NSLĐ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ, New Zealand… Năng lực đổi mới và sáng tạo KH&CN của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém.

Mất dần sức cạnh tranh

Có thể nói, chất lượng nguồn nhân lực của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới. Tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều.

Dự báo trong những năm tới, Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều hợp tác song phương và đa phương sẽ được ký kết. Sự di chuyển lao động giữa các quốc gia sẽ diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh trong thị trường lao động càng trở nên gay gắt. Trong khi đó, nhân lực của nước ta đang mất dần sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong khu vực và quốc tế, đây là thách thức lớn đối với nước ta.

Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là do chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo thấp hoặc đào tạo không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của DN ngoài nhà nước.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các DN phàn nàn về những kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà DN cần còn rất lớn. Trong đó, gần 65% chủ DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cho rằng những kỹ năng mà trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của DN. Tỷ lệ này ở các DN trong nước là DNNN và DN tư nhân thấp hơn, khoảng 35%.

Thực tế này cho thấy, để nâng cao NSLĐ cần phải giảm sự khác biệt giữa kỹ năng được đào tạo và kỹ năng mà DN cần. Điều này đòi hỏi cơ chế kết nối DN với cơ sở đào tạo, đồng thời phải tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, những cơ sở đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của thị trường sẽ khó được chấp nhận.

Ông Sâm đánh giá, những hạn chế của nhân lực lao động Việt Nam nêu trên đang trở thành gánh nặng, những thách thức đối với giáo dục nghề nghiệp, bởi chức năng, nhiệm vụ của nó chính là đào tạo nhân lực lao động cho quốc gia. Cũng chính vì thế, đòi hỏi hệ thống này phải nỗ lực, có những giải pháp, hướng đi phù hợp cho giai đoạn tới để hội nhập sâu, rộng vào Cộng đồng ASEAN.

Ngoài ra, Ts. Trần Thị Minh Phương – Trường Đại học Lao động – Xã hội, nhận định trình độ của lao động trong DN có tác động tích cực đến NSLĐ trong DN. Như vậy, việc đào tạo ngoài DN hay trong DN đều đóng vai trò quan trọng đến tăng NSLĐ trong DN.

Thy Lê

Theo: http://thoibaokinhdoanh.vn

Advertisements

Lao động Việt Nam: “Vàng” số lượng chứ không “vàng” chất lượng!

Thống kê cho thấy Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ dân số “vàng”, nhưng thực tiễn lại cho thấy chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng.

Gia tăng lực lượng lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước

Lao động Việt Nam: “Vàng” số lượng chứ không “vàng” chất lượng!

Chất lượng lao động Việt Nam đang là vấn đề cần được quan tâm
Mất 2 năm để xóa kiến thức được đào tạo trong nhà trường

TS Nguyễn Văn Thuật (Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, hiện Việt Nam có hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 79,1%), trong khi chỉ có 11,3 triệu người đã được đào tạo (chiếm 20,9%). Những con số này phản ảnh chung là lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động trong nền kinh tế lại thấp, dẫn đến năng suất lao động thấp và lao động giá rẻ là đương nhiên. Đây chính là nguyên nhân lý giải vì sao lực lượng lao động nước ta chỉ “vàng” về số lượng mà không phải “vàng” về chất lượng.Cũng theo ông Thuật, thời gian gần đây, chất lượng lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Bất cập trong xu hướng này chính là việc lao động đã qua dạy nghề, có trình độ trung cấp chuyên nghiệp lại có dấu hiệu giảm hoặc chững lại và lao động có trình độ đại học trở lên lại có xu hướng tăng nhanh, từ 6,9% năm 2013 lên 9% năm 2016.Điều này phản ánh sự bất hợp lý về cơ cấu chất lượng lao động, do đó vẫn tạo nên tình trạng thừa thầy, thiếu thợ trong nền kinh tế của nước ta. Minh chứng cho điều này là tình trạng cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp vẫn đang là vấn đề “nóng” của xã hội và mới đây Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã xây dựng đề án (đang chờ lấy ý kiến) đưa lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2025.Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp (DN) phàn nàn về những kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà DN cần còn rất lớn, trong đó gần 65% chủ DN có vốn đầu tư nước ngoài cho rằng những kỹ năng mà trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của DN. PGS, TS Mạc Văn Tiến (Viện Khoa học Giáo dục nghề nghiệp) cũng cho biết đã từng có một lãnh đạo DN chia sẻ với ông rằng, họ mất 2 năm để xóa sạch những kiến thức mà người lao động của họ đã được lĩnh hội trong nhà trường.PGS, TS Tiến cho biết thêm, theo các số liệu thống kê, năm 1979 cứ 1 người có trình độ đại học thì có 7,2 người công nhân kỹ thuật (CNKT) nhưng đến năm 2017, con số CNKT đã xuống đến 0,35 người. Trong khi đó, với ngành sản xuất công nghiệp cơ khí thì một kỹ sư cần có 60 CNKT giúp việc, ngành tự động hóa cũng cần 17,5 CNKT giúp việc cho một kỹ sư. Ở Hàn Quốc con số CNKT làm việc dưới sự chỉ đạo của 1 kỹ sư lên đến 20 người.

Năng suất lao động kinh tế ngoài nhà nước rất thấp

Hiện nay, doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) đang là lực lượng chính, chiếm hơn 97% tổng số DN và sử dụng gần 62% tổng số lao động đang làm việc trong các loại hình DN của cả nước. Theo Tổng cục Thống kê, DNNNN đã phát triển khá nhanh ở tất cả các vùng và các địa phương trong cả nước, nhiều chỉ tiêu kinh tế cơ bản của loại hình DN này chiếm tỷ trọng cao hơn DNNN như số lao động, nguồn vốn, tài sản cố định, doanh thu.Số liệu thống kê hàng năm cũng cho thấy, số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế NNN của nước ta năm 2016 là gần 46 triệu người, trong đó lao động làm việc trong DNNNN ước tính khoảng hơn 8,4 triệu lao động, chiếm trên 18% tổng số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế này.Theo ông Thuật, dự báo, số lao động làm việc trong DNNNN sẽ đạt khoảng 12.845 nghìn người vào năm 2022, 16.020 nghìn người vào năm 2026 và 19.400 nghìn người vào năm 2030. Tính bình quân hàng năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cầu lao động trong DNNNN sẽ tăng bình quân 733 nghìn lao động/năm.Nghiên cứu của nhóm tác giả của Trung tâm Dự báo kinh tế – xã hội cũng cho thấy, năng suất lao động bình quân hàng năm của một lao động trong DNNNN đứng ở vị trí thấp nhất trong giai đoạn 2011-2014. Cũng xuất hiện dấu hiệu cho thấy, khoảng cách về năng suất lao động của loại hình DN này so với 2 loại hình DN còn lại đang ngày càng bị nới rộng. Đây là yếu tố rất đáng lo ngại vì nó cản trở khả năng cạnh tranh của DN và nền kinh tế nước ta nói chung bởi loại hình DNNNN là lực lượng kinh tế có số lượng DN đông nhất.

Nghiên cứu cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến năng suất lao động của DNNNN còn thấp hơn so với 2 loại hình DN kia không chỉ là do chất lượng lao động trong loại hình DN này còn thấp, mà còn do cả môi trường kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường ít nhiều còn có sự bất bình đẳng giữa các loại hình DN, trong đó DNNNN là loại hình DN bị ảnh hưởng nhiều nhất…
Nhật Thu

 

Cầu lao động đến từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước

Nhận định này được đưa ra tại hội thảo khoa học quốc gia “Xu thế phát triển của lao động trong các loại hình doanh nghiệp Việt Nam” do Viện Công nhân và công đoàn (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) cùng Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và đầu tư) tổ chức tại Hà Nội ngày 14/9/2017.

Một báo cáo đưa ra tại hội thảo cho thấy, từ nay đến năm 2030, nhu cầu lao động trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng bình quân 733 nghìn lao động/năm. Trong đó số lao động làm việc trong khu vực này vào năm 2022 sẽ đạt khoảng 12,845 triệu người, 16,02 triệu người vào năm 2026 và 19,4 triệu người vào năm 2030.

Theo TS Nguyễn Văn Thuật và các cộng sự đến từ Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia, doanh nghiệp ngoài nhà nước đang ở trong xu hướng ngày càng phát triển, đặc biệt là xu hướng gia tăng mạnh về số lượng doanh nghiệp. Điều này tất yếu sẽ kéo theo xu hướng phát triển của lao động trên hai bình diện là nhu cầu sử dụng lao động của khu vực doanh nghiệp này ngày càng lớn và chất lượng lao động đòi hỏi ngày một cao hơn. Hai yếu tố được coi là nền tảng cho sự phát triển của lao động trong lĩnh vực này là Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 và Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân được thông qua tại Hội nghị BCH T.Ư Đảng mới đây và được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 3/6/2017.

Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo đang làm việc trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước với khoảng 46 triệu lao động nhưng phần lớn không phải là lao động làm công ăn lương. Trong khi đó, phát triển lao động làm công ăn lương là xu thế tất yếu của kinh tế thị trường. Vì vậy để phát triển phù hợp với xu hương này thì Việt Nam cần coi trọng phát triển kinh tế tư nhân hơn nữa mà trọng tâm là phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước trên nền tảng của một sân chơi bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

Tại hội thảo, PGS.TS Cao Văn Sâm, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cho biết lực lượng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp – trình độ từ cao đẳng trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao, chiếm 27,2% trong tổng số lao động thất nghiệp. Trong khi thị phần thất nghiệp của nhóm “đã qua đào tạo nghề” (bao gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề) hay nhóm “chưa qua đào tạo/đi học” là rất thấp (tương ứng 5,3% và 2,2%). Sở dĩ có điều này có thể là do nhóm lao động này sẵn sàng làm các công việc giản đơn trong khi những người có trình độ học vấn cao lại cố gắng tìm kiếm công việc với mức thu nhập phù hợp hơn. Điều này phần nào chỉ ra sự bất hợp lý giữa ngành nghề đào tạo với yêu cầu việc làm của thị trường lao động. Tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” hiện vẫn tồn tại.

Những hạn chế, yếu kém nói trên của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (năm 2016, Việt Nam xếp vị trí 60/138 nền kinh tế được WEF đánh giá về năng lực cạnh tranh).

“Với mục tiêu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động; góp phần tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ 3 giải pháp trọng tâm là: Xây dựng các chuẩn; tăng cường tự chủ đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp” – ông Cao Văn Sâm nói.

Quang Lộc

Theo: baocongthuong.com.vn

Doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 97%, sử dụng 62% lao động

Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang là lực lượng chính, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp và sử dụng gần 62% tổng số lao động trong các loại hình doanh nghiệp.

Ngày 14/9 tại Trung tâm Hội nghị Công đoàn Việt Nam, số 1A Yết Kiêu, Hà Nội, lãnh đạo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo khoa học quốc gia về “Xu hướng phát triển của lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam”.

Hình ảnh hội thảo “Xu hướng phát triển của lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam”. (Ảnh: Ngọc Bích).

Tới tham dự hội thảo có ông Trần Văn Thuật – Phó chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó giáo sư Vũ Quang Thọ – Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật – Phó Tổng phụ trách Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội, Phó giáo sư Cao Văn Sâm – Phó tổng cục trưởng thường trực Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Tiến sĩ Trần Thị Minh Phương – Trường Đại học Lao động và Xã Hội … cùng đông đảo các đại biểu đến từ các trường đại học, ban ngành đoàn thể.

Hội thảo thu hút đông đảo khách tham dự (Ảnh: Ngọc Bích).

Tại đây, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật – Phó Tổng phụ trách Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội đã có những trao đổi về định vị xu hướng phát triển của lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Việt Nam đến năm 2030.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thuật – Phó Tổng phụ trách Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội (Ảnh: Ngọc Bích).

Theo đó, doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp nhà nước là hai loại hình doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu ở nước ta đang diễn ra theo hướng đối lập nhau xét ở 3 tiêu chí là: số lượng doanh nghiệp, tỷ trọng đóng góp vào vốn đầu tư nước ngoài và số lao động làm việc.

Cụ thể là doanh nghiệp ngoài nhà nước đang trong xu hướng giảm về cả 3 tiêu chí nêu trên, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước ngày càng gia tăng.

Hiện nay, doanh nghiệp ngoài nhà nước đang là lực lượng chính, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp và sử dụng gần 62% tổng số lao động đang làm việc trong các loại hình doanh nghiệp của cả nước.

Có thể nói, cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng ngày càng có được bước phát triển vượt bậc và giữ vị thế, vai trò động lực ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội nước nhà.

Điều này không chỉ thể hiện là doanh nghiệp ngoài nhà nước ngày càng tăng về số lượng, có đóng góp ngày càng to lớn vào tăng trưởng kinh tế, mà còn ngày càng sử dụng nhiều lao động.

Nếu như năm 2007, doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ có khoảng hơn 140 nghìn doanh nghiệp thì đến năm 2015 đã có hơn 427 nghìn doanh nghiệp, tăng gần 3 lần và chiếm 96,6% tổng số doanh nghiệp cả nước.

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, doanh nghiệp ngoài nhà nước đã phát triển khá nhanh ở tất cả các vùng và các địa phương trong cả nước, nhiều chỉ tiêu kinh tế cơ bản của loại hình doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng cao hơn doanh nghiệp nhà nước như: số lao động, nguồn vốn, tài sản cố định, doanh thu…

Những điều nêu trên cho thấy, doanh nghiệp ngoài nhà nước đang là lực lượng chính, ngày càng nâng dần vai trò động lực quan trọng hơn đối với toàn bộ nền kinh tế và được cho là sẽ có vai trò quyết định trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta.

Vì vậy, việc phát triển loại hình doanh nghiệp này đang là vấn đề cấp thiết không chỉ để nâng cao sức mạnh nội tại của nền kinh tế nước ta nói chung, sức mạnh của doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng, mà còn để đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nêu trên của doanh nghiệp ngoài nhà nước, những vấn đề cố hữu của doanh nghiệp nước ta nói chung.

Trong đó chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng vẫn còn chưa được giải quyết như: năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, công nghệ còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu vắng lực lượng doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để hội nhập và tạo sức phát triển lan tỏa mạnh trong nền kinh tế nói chung, đến các địa phương nói riêng.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen nhau.

Trong đó cơ hội nhiều hơn thách thức và giữa chúng có thể chuyển hóa cho nhau từ chính nội lực của mỗi doanh nghiệp…

Số liệu thống kê hàng năm cho thấy, số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước của nước ta năm 2016 là gần 46 triệu người.

Trong đó lao động làm việc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước ước tính khoảng hơn 8,4 triệu lao động, chiếm trên 18% tổng số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế này.

Xét ở góc độ lao động làm công ăn lương, loại hình lao động này ở nước ta đang trong xu hướng gia tăng năm sau cao hơn so với năm trước và tăng nhanh hơn kể từ năm 2014, bình quân mỗi năm tăng 765 nghìn người trong giai đoạn 2010-2016, chủ yếu là do doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Cụ thể, số lao động làm công ăn lương của nước ta năm 2010 là 16,6 triệu người đã tăng lên 21,9 triệu người năm 2016.

Trong khi lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước năm 2010 là gần 6 triệu lao động đã tăng lên hơn 8,4 triệu lao động năm 2016, chiếm  38,3% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước và tăng bình quân mỗi năm khoảng 350 nghìn người trong cùng giai đoạn.

Chất lượng lao động và năng suất lao động

Chất lượng lao động là một trong những nhân tố cơ bản phản ánh và tác động đến năng suất lao động.

Điều này có nghĩa là chất lượng lao động cao sẽ góp phần quan trọng dẫn đến năng suất lao động cao và ngược lại, đây cũng là tính khách quan trong quan hệ cùng chiều giữa chất lượng lao động với năng suất lao động.

Chất lượng lao động được thể hiện thông qua hai tiêu chí cơ bản là thể lực và trí lực của nguồn lao động (sức khỏe và trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp).

Năng suất lao động thì phản ánh cách thức và hiệu quả sử dụng lao động,… Nói một cách bao quát, năng suất lao động phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của nguồn lao động trong sản xuất.

Xét về chất lượng lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng cho thấy, lao động làm việc hàng năm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang trong xu hướng giảm nhưng vẫn còn rất chậm và chiếm tỷ lệ cũng rất cao.

Về chất lượng lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tay nghề và kỹ năng của lao động trong loại hình doanh nghiệp này vẫn còn thấp, không ít doanh nghiệp đã phải tự đào tạo lao động hoặc đào tạo lại lao động theo hình thức vừa học vừa làm và điều này đang là một trong những nút thắt cơ bản trong quá trình phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo thấp hoặc đào tạo không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp ngoài nhà nước.Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của nguồn lao động và vì vậy phấn đấu nâng cao tiền lương là yêu cầu tất yếu của nguồn lao động, mục đích này tạo động lực để nguồn lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.Hơn nữa, lương cũng là một trong những công cụ kinh tế quan trọng nhất trong quản lý lao động, người ta dùng công cụ này để kích thích thái độ quan tâm và trách nhiệm với công việc của nguồn lao động.

Do đó, tiền lương là một nhân tố mạnh mẽ để tăng năng suất lao động, hay nói cách khác, đối với nguồn lao động, tiền lương là khoản thu nhập chính, để tăng tiền lương họ phải tăng năng suất lao động…

Xu hướng phát triển

Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang ở trong xu hướng ngày càng phát triển, với tốc độ ngày một mạnh hơn, đặc biệt là sẽ có sự gia tăng mạnh về số lượng doanh nghiệp.Do đó, tất yếu sẽ kéo theo xu hướng phát triển của lao động trong thời gian tới trên hai bình diện là nhu cầu sử dụng lao động của loại hình doanh nghiệp này ngày một nhiều hơn và chất lượng lao động cũng đòi hỏi ngày càng cao hơn do chính thực tiễn phát triển của doanh nghiệp ngoài nhà nước đặt ra.

Cầu lao động đến năm 2030

Số lao động làm việc trong doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ đạt khoảng 12.845 nghìn người vào năm 2022, 16.020 nghìn người vào năm 2026 và 19.400 nghìn người vào năm 2030.Tính bình quân hàng năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cầu lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng bình quân 733 nghìn lao động/năm.

Ngọc Bích

 

Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta

Lao động làm công ăn lương ở nước ta đang trong xu hướng phát triển, đặc biệt là phát triển trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Điều này đồng nghĩa với thị trường lao động ở nước ta cũng đang trong xu hướng phát triển. Bên cạnh xu hướng phát triển vừa nêu cần được quan tâm thì chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình ở nước ta cũng đang thu hút sự chú ý của dư luận. Nhân dịp số đặc biệt Mừng Xuân 2017, Mừng đất nước đổi mới, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc cuộc phỏng vấn Tiến sỹ Nguyễn Văn Thuật với chủ đề “Luận bàn về sự phát triển của lao động làm công ăn lương và chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu ở nước ta”.

Góp phần lý giải nguyên nhân cán bộ, công chức nhà nước vô dụng hiện nay ở nước ta

Không định hướng đúng, sinh viên vẫn thất nghiệp

Cần chú trọng phát triển, giải quyết và tạo ra việc làm công ăn lương

Giai đoạn dân số vàng có thể bị bỏ lỡ

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nguồn cung lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng lao động lại rất thấp

PV: Thưa Tiến sỹ, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Đề cập đến lao động làm công ăn lương và sự phát triển của nó là một vấn đề khá vĩ mô, khá rộng lớn trong kinh tế thị trường. Bởi sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản có tác động tích cực vào cấu trúc kinh tế – xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế – xã hội cơ bản của kinh tế thị trường nói riêng. Vì vậy, trong phạm vi của cuộc trao đổi này, tôi xin trả lời khái quát như sau:

Ở các nền kinh tế thị trường phát triển nói chung như Mỹ, Anh, Đức, Pháp,…,lao động làm công ăn lương chiếm dao động khoảng từ 80 – 90% lực lượng lao động. Có thể nói, tỷ lệ này là một chỉ báo quan trọng góp phần giúp cho việc nghiên cứu, phân tích để phản ánh và lý giải trình độ phát triển kinh tế – xã hội chung của mỗi quốc gia. Nói cách khác, sự phát triển của lao động làm công ăn lương là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển của kinh tế thị trường chính là nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày một sâu rộng hơn của mỗi nền kinh tế trong bối cảnh mỗi quốc gia đều phải chủ động tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa. Xét cho cùng, có thể thấy, nếu không có sự phát triển của lao động làm công ăn lương trong từng thành phần kinh tế nói chung, đặc biệt là thành phần kinh tế ngoài nhà nước nói riêng thì sẽ không có sự phát triển của thị trường lao động một cách đầy đủ theo quy luật tất yếu của nó, cũng như các thị trường khác dựa trên sự phân công lao động xã hội khách quan và ngược lại.

Khi lao động làm công ăn lương trong một nền kinh tế chiếm phần lớn trong lực lượng lao động của nền kinh tế đó, nó cho thấy nền kinh tế đó, quốc gia đó có sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp, thông qua đó tạo ra được nhiều việc làm để cho người lao động có cơ hội lựa chọn và nâng cao thu nhập, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của cung cầu lao động và tính khách quan, tính phù hợp trong phân công lao động, từ đó có tác động tích cực đến sự phát triển của các thị trường khác. Nói một cách tổng quát thì tính năng động và sự phát triển của lao động làm công ăn lương là một trong những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách lao động tiền lương và chính sách phát triển kinh tế – xã hội khác trong một nền kinh tế thị trường dù là phát triển hay đang phát triển.

Về sự phát triển của lao động làm công ăn lương ở nước ta có thể nói như sau:

– Thời kỳ bao cấp: Lao động làm công ăn lương chủ yếu làm việc trong khu vực nhà nước và vì vậy, nội hàm của khái niệm lao động làm công ăn lương cũng đã không được hiểu đầy đủ như hiện nay vì khi đó nước ta không đi theo kinh tế thị trường.

– Thời kỳ đổi mới: Nước ta bắt đầu chuyển đổi sang và phát triển nền kinh tế thị trường từ năm 1986. Đây là một nội dung lớn và quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, nhờ đó các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, đưa nền kinh tế của nước ta phát triển sâu rộng hơn, đời sống của các tầng lớp nhân dân cũng không ngừng được cải thiện, lao động trong các thành phần kinh tế cũng ngày một đa dạng và phát triển hơn.

Theo tính toán của tôi dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân hàng năm lao động làm công ăn lương của nước ta tăng khoảng 660.000 người trong giai đoạn 2011-2015 và tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Năm 2011, lao động làm công ăn lương của nước ta là khoảng 17.500.000 người, chiếm 34,6% lực lượng lao động có việc làm thì đến năm 2015, lao động làm công ăn lương ước tính đã tăng lên 20.800.000 người, chiếm 39,3% lực lượng lao động có việc làm. Riêng năm 2015 là năm có số lượng lao động làm công ăn lương tăng cao nhất so với các năm khác trong giai đoạn 2011-2015, do đó, đây cũng là năm mà nước ta đã giải quyết được nhiều việc làm nhất cho người lao động trong cùng giai đoạn vừa nêu. Điều cũng đáng chú ý nữa là lao động làm công ăn lương tuổi từ 60 trở lên năm 2015 chiếm 2,1% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước.

Về lao động trong khu vực kinh tế nhà nước (Lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 không có sự gia tăng về số lượng theo hướng năm sau cao hơn năm trước, cụ thể là năm 2011 có khoảng 5.250.000 người thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn khoảng 5.185.000 người.

Về lao động trong khu vực doanh nghiệp (Lao động trong  khu vực doanh nghiệp là lao động làm công ăn lương) trong giai đoạn 2011-2015 thì có sự gia tăng theo hướng năm sau cao hơn năm trước. Đây cũng là khu vực có lực lượng lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 70% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước trong năm 2015.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta đang trong xu hướng phát triển được thể hiện bằng sự gia tăng hàng năm về số lượng và tỷ trọng trong lực lượng lao động có việc làm như tôi đã đề cập, còn về chất lượng thì thông qua tiêu chí trình độ học vấn và thể lực cũng ngày một cao hơn,… Nói cách khác, sự phát triển này là một thực tế không thể đảo ngược được trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.

PV: Mới đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động của nước ta. Trong đó, có chủ trương kéo dài tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, xin ông cho biết quan điểm của ông về chủ trương này?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vừa có Tờ trình Chính phủ về dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật Lao động. Trong đó, Bộ này đưa ra hai phương án tuổi nghỉ hưu: phương án 1 là giữ như hiện hành (nam 60 và nữ 55 tuổi) và phương án 2 là tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình kể từ ngày Bộ luật có hiệu lực (01/01/2018), tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ 60 tuổi.

Đề xuất này đã và đang có không ít góc nhìn đa chiều từ cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các chuyên gia nói riêng và ngay cả những người lao động làm công ăn lương như công nhân, công chức, viên chức nói chung. Phân tích lý do cho việc đồng tình hay không đồng tình về chủ trương này khi họ đưa ra thì đều có cơ sở nhất định. Có thể nói, chính vì lẽ đó mà 2 phương án về tuổi nghỉ hưu mới được đưa ra để xem xét.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta đợt này không phải là lần đầu tiên mà trước đây chúng ta cũng đã đề xuất rồi nhưng Quốc hội không thông qua. Hơn nữa, tại Khoản 3 Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu trong Luật Lao động hiện hành cũng cho phép người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm.

Quan điểm của tôi là nên giữ tuổi nghỉ hưu như hiện hành (phương án 1), còn tăng tuổi nghỉ hưu như đã nêu (phương án 2) là chưa phù hợp xét ở một số lĩnh vực kinh tế – xã hội và loại hình việc làm của người lao động làm công ăn lương, đặc biệt là xét theo trục phát triển của lao động làm công ăn lương trong điều kiện của nước ta từ nay đến tối thiểu là năm 2022. Vì vậy, ở đây tôi chỉ đề cập đến tính chưa phù hợp của chủ trương này khi soi xét vào trục phát triển chung của lao động làm công ăn lương ở nước ta được thể hiện ở 3 nhóm lý do chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, lao động làm công ăn lương của nước ta dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn còn chậm, ước tính chiếm gần 40% lực lượng lao động có việc làm hiện nay. Trong lực lượng lao động có việc làm thì phần lớn là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (ước tính chiếm gần 80% lao động có việc làm) và trong lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật có việc làm thì cũng có không ít lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học làm việc không đúng với chuyên môn mà họ đã được đào tạo do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Ngoài ra, ước tính cũng còn hàng trăm nghìn người lao động trẻ có trình độ đại học và sau đại học đang thất nghiệp.

Thứ hai, tình trạng người sử dụng lao động nói chung hay doanh nghiệp nói riêng lách luật, giao kết sai hợp đồng lao động còn diễn ra khá phổ biến không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động làm công ăn lương. Chẳng hạn như người lao động làm việc không có hợp đồng lao động, làm việc theo hợp đồng miệng trái với quy định, hoặc việc ký hợp đồng lao động xác định thời hạn nhiều hơn 2 lần liên tiếp hay việc ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, hoặc là thang bảng lương được xây dựng thành nhiều bậc, tách tiền lương thành nhiều khoản để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,…. Những điều này ít nhiều làm cho hành lang pháp lý về lao động có tính hiệu lực và hiệu quả không cao, gây trở ngại cho trục phát triển của lao động làm công ăn lương và có ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống an sinh xã hội.

Thứ ba, ở các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch hay Xingapo thì tuổi nghỉ hưu đều được quy định cao hơn phương án tăng tuổi nghỉ hưu của nước ta nhưng lao động làm công ăn lương ở các nước này đều chiếm dao động từ khoảng 80 – 90% lực lượng lao động. Tuổi nghỉ hưu ở các nước phát triển cao hơn nước ta là nhằm tận dụng những mặt tích cực trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước nhưng có điểm chung là góp phần bù đắp thiếu hụt nhân lực và hạn chế nhập khẩu lao động từ các nước khác,….Trong khi dự báo đến năm 2022, lao động làm công ăn lương của nước ta cũng sẽ chỉ chiếm khoảng trên 47% lực lượng lao động có việc làm.

Trên cơ sở của 3 nhóm lý do nêu trên có thể kết luận chung như sau: Tăng tuổi nghỉ hưu đặt trong điều kiện, bối cảnh của trục phát triển của lao động làm công ăn lương của nước ta như đã nói trên thì nó cho thấy việc thực hiện này là chưa phù hợp, thậm chí thực hiện nó có thể gây trở ngại nhất định cho việc tận dụng thời kỳ dân số vàng của nước ta nói chung và sự phát triển của thị trường lao động nói riêng.

PV: Theo ông, nếu kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước thì sẽ có tác động như thế nào đến công tác tinh giản biên chế của nước ta?

TS. Nguyễn Văn Thuật: Tinh giản biên chế và kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước là hai vấn đề phức tạp. Như tôi đã nói, đề xuất kéo dài tuổi nghỉ hưu của nước ta là chưa phù hợp, trong đó đã hàm ý cả việc chưa nên kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với công chức, viên chức nhà nước (nam 62, nữ 60 tuổi), mà theo tôi, chúng ta nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tinh giản biên chế theo như Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 01 năm 2017 về việc đẩy mạnh thực hiện chủ trương tinh giản biên chế. Vì lý do cụ thể đó mà tôi không đề cập đến tác động của việc này đến việc kia hoặc hai vấn đề đó có mối quan hệ như thế nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào.

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng và xuyên suốt là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sức khỏe, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt để phục vụ nhân dân nói chung và kiến tạo thể chế, môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển nói riêng,…. Tuy nhiên, thời gian qua, dự luận đã đề cập đến một số hạn chế trong công tác tổ chức nhân sự ở bộ máy nhà nước. Đó là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước “sáng cắp ô đi tối cắp về” dẫn đến hiện tượng người làm không hết việc, thậm chí phải làm ngoài giờ trong khi không ít người làm thì ít, chơi thì nhiều, đến tháng lĩnh lương,… Dù chưa có số liệu chính thức về công chức không làm được việc, nhưng nếu theo ước tính của các chuyên gia thì có tới 30% công chức không làm được việc, tương đương 700.000 người, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách nhà nước mỗi năm.

Nếu chúng ta đẩy mạnh tinh giản biên chế hiệu quả và kiên quyết hơn nữa việc đưa ra khỏi nền công vụ những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc; đồng thời lấy và giữ được những cán bộ đáp ứng được và tốt yêu cầu công việc thì việc kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước là chưa cần thiết để đảm bảo cho bộ máy nhà nước không phình lên mà vẫn đảm bảo được tiêu chí ngày càng tạo nhiều cơ hội hơn cho lao động trẻ, tri thức trẻ lựa chọn việc làm và được cống hiến, cũng như bảo đảm được mục tiêu trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Hơn nữa, cán bộ, công chức, viên chức làm được việc sẽ không gặp cản trở nào trong công việc từ chính những người “sáng cắp ô đi tối cắp về”.

Mặt khác, cũng cần phải nói thêm rằng việc kéo dài thời gian công tác, kéo dài tuổi nghỉ hưu trong các cơ quan nhà nước cũng đang được thực hiện rồi. Chẳng hạn như Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ cũng cho phép việc việc kéo dài thời gian công tác khi đủ tuổi nghỉ hưu dựa trên một số tiêu chí nhất định, hoặc Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức ở một số chức danh lãnh đạo nhất định.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!

(Theo Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội)

Thành tựu trong kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2015

Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của nước ta giai đoạn 2011-2015 đã bị ảnh hưởng không nhỏ do bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn và những diễn biến phức tạp về địa chính trị, cũng như do sức lực nội tại của nền kinh tế vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết cả khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của Chính phủ để vượt qua các rào cản đó, kinh tế vĩ mô của nước ta đã ngày một ổn định hơn được thể hiện ở việc phân tích so sánh chỉ số tăng trưởng kinh tế và lạm phát cơ bản năm sau so với năm trước. Đặc biệt, thành tựu trong tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát đã đạt được 2 năm 2014-2015 đang là nền tảng kế tiếp vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu này trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016 của nước ta.

Từ khóa: thành tựu, tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát cơ bản

1.Đặt vấn đề

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô. Sự tác động qua lại giữa hai vấn đề – hai hiện tượng này là rất phức tạp bởi chúng có thể tác động tích cực và cũng có thể tác động tiêu cực lẫn nhau, hoặc giữa chúng tồn tại tương đối độc lập trong những hoàn cảnh kinh tế – xã hội nhất định ở mỗi quốc gia. Thời gian qua, sự bất ổn của kinh tế thế giới và những tiềm ẩn của nó đã tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Để có được mức tăng trưởng kinh tế, không ít nước đã phải đánh đổi với mức lạm phát cao. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa 2 hiện tượng này. Ví dụ như:

– Giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ tiêu cực, trong khi cũng có nghiên cứu khác lại cho kết qủa trái ngược với điều vừa nêu [1].

– Theo lý thuyết tài chính – tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và lạm phát là 2 hiện tượng độc lập. Nếu như lạm phát là hệ quả trực tiếp của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh thì hệ quả này là tạm thời, nhưng trong trung hạn và dài hạn thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát là phi tuyến tính [2].

– Trường phái Keynes cho rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều [3].

– Ở nhiều quốc gia, chỉ số giá tiêu dùng hay lạm phát là cách tư duy về ổn định giá và là cơ sở để xác định nền kinh tế đã ổn định hay không. Bởi nếu giá tiêu dùng hoặc lạm phát cứ tăng, diễn biến khó kiểm soát thì tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế [4].

(Nguồn: Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội, số Xuân Bính Thân 2016)

Tải bài viết tại đây: Lam phat va GDP

Xuất khẩu nông sản sụt giảm: Nguyên nhân và khuyến nghị giải pháp

(NVT)- Xuất khẩu nông sản là một trong những chính sách thương mại quốc tế quan trọng của nước ta trong quá trình đẩy mạnh hội nhập kinh tế. Nhờ đó, hàng hóa nông sản của nước ta đã và đang tạo dựng được chỗ đứng, cũng như thương hiệu trên thị trường quốc tế, đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu và là một cường quốc về nông sản trên thế giới,… Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản của nước ta còn đứng trước không ít những khó khăn, rào cản khi thâm nhập và duy trì thị trường nước ngoài. Đặc biệt là images828426_000001từ đầu năm đến nay, đầu ra một số mặt hàng nông sản chính xuất khẩu của nước ta lại sụt giảm đáng kể trong khi thị trường tiêu thụ ngoài nước ngày càng được phát triển và mở rộng theo đà của tiến trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế toàn cầu. Dó đó, việc làm rõ nguyên nhân cơ bản làm sụt giảm để trên cơ sở đó đưa ra được một số khuyến nghị có tính giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao giá trị nông sản là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn nước ta.

Từ khóa: Nông sản, nông nghiệp, xuất khẩu, thị trường quốc tế.

1. Đặt vấn đề

Là một nước đi lên từ nông nghiệp bởi có nhiều lợi thế về sản xuất hàng nông sản trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy mà từ nhiều năm trở lại đây, hàng nông sản của nước ta đã và đang có vị trí ngày càng quan trọng trên thị trường hàng nông sản thế giới với các mặt hàng nông sản chủ yếu như : cà phê, điều, hạt tiêu, chè, gạo,…Tuy nhiên, thị trường nông sản thế giới cũng ngày càng chứa đựng những đòi hỏi khắt khe về nhiều phương diện khác nhau như: công nghệ sản xuất- chế biến, giá cả, chất lượng sản phẩm, thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng và những thương lượng thương mại giữa các quốc gia,…Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số lượng thị trường xuất khẩu hàng nông sản nước ta trong những năm gần đây đã tăng khá nhanh, từ 107 thị trường năm 2008 đã tăng lên 129 thị trường trên toàn cầu ở năm 2013. Điều này cho thấy, chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản trên phạm vi cả nước đã có nỗ lực rất lớn trong việc giữ ổn định thị phần và tìm kiếm thêm bạn hàng mới trên các thị trường truyền thống, không ngừng thâm nhập và mở rộng thị trường mới ở khắp các châu. Mới đây, việc ký kết hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á – Âu, giữa Việt Nam và Hàn Quốc; cũng như cuối năm nay, cộng đồng kinh tế ASEAN chính thức sẽ được thành lập mà nước ta là một thành viên, cùng với hiệp định thương mại tự do đang chuẩn bị ký kết với Liên minh EU,… đang tạo thêm cơ hội cho nông sản Việt Nam khi hàng rào thuế quan đối với mặt hàng này hầu hết được dỡ bỏ,…

Trong khi đó, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của nước ta lại chưa quan tâm thỏa đáng vào những tiêu chí cả thuận lợi, lẫn thách thức như đã nêu trên.Vì vậy, nông sản xuất khẩu của nước ta vẫn chủ yếu là xuất khẩu thô, giá trị và khả năng cạnh tranh còn thấp so với các nước trong khu vực,…

Tải bài viết tại đây: XK nong san sut giam nguyen nhan va khuyen nghi giai phap

%d bloggers like this: